Jump to content

Search the Community

Showing results for tags 'James Stewart'.



More search options

  • Search By Tags

    Type tags separated by commas.
  • Search By Author

Content Type


Forums

  • Khu vực hành chính FreeHD
    • Thông Báo - Annoucements
    • Ý kiến đóng góp - Suggestion
    • Trò Chuyện Linh Tinh - Chit chat Gossip
    • Trash bin
  • Technology Zone - Khu Kỹ Thuật
    • General Guide
    • Hỏi Đáp Chung - Question and Answer
    • Phần Mềm - Software
    • Phụ đề - Thuyết minh
  • Movie News - Tin Tức Phim
    • Thông Tin Điện Ảnh - News
    • Cảm Nhận Phim - Movie Review
  • FreeHD Content
    • Non-HD
    • HDRip
    • miniHD
    • 720p
    • 1080p
    • Complete Blu-ray
    • 4K Content
    • Sport
    • Documentary
    • TV series
    • Anime
    • Request
  • Music Zone
    • Lossy
    • Lossless
    • Music Videos
    • Music Request
  • Members Share - Khu tự do chia sẻ của thành viên
    • DVD - nonHD
    • mini HD
    • 720p - 1080p
    • TV series
    • Full BluRay
    • Music
  • FreeHD Entertainment - Khu giải trí, Thư giãn
  • Trash bin

Find results in...

Find results that contain...


Date Created

  • Start

    End


Last Updated

  • Start

    End


Filter by number of...

Joined

  • Start

    End


Group


AIM


MSN


Website URL


ICQ


Jabber


Location


Interests

Found 2 results

  1. Khi Smith bước xuống chuyến tàu vừa đưa anh từ quê nhà tới Washington, D.C, ngước nhìn ra bên ngoài, “bất thình lình, nó ở đó, nó sừng sững trước mắt anh qua cửa ga”. Đó là Mái vòm Điện Capitol với vị Nữ thần tượng trưng cho Tự do ở trên nóc mà trước đây anh chỉ được biết đến qua tranh ảnh, sách vở. “Lớn như thật, rực rỡ dưới ánh sáng mặt trời bên ngoài”. “Và rồi anh cứ thế cất bước tới đó”, bước lên chiếc xe buýt đang đậu ngay ngoài cửa. Có lẽ anh “chưa từng xúc động đến thế trong đời”, trên mặt hiện rõ sự hớn hở, sung sướng như một đứa trẻ vừa vớ được kẹo. Chiếc xe đưa anh qua mọi ngả đường Washington, D.C, qua tòa nhà Trụ sở Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ với dòng chữ nổi tiếng “Công lý bình đẳng theo luật pháp” (“Equal justice under law”), qua Tòa Bạch Ốc từng là nơi ở và làm việc của biết bao con người vĩ đại mà từng lời nói của họ anh đều đã nằm lòng, qua Tòa Quốc Hội nơi anh quyết định ghé vào tham quan. Chiếc Chuông Tự do ngân vang trên nền bản Tuyên ngôn Độc lập được máy quay cận cảnh ghi lại ba cụm từ bao đời nay đã ngự trị trong tiềm thức của người dân Mỹ: “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Anh tiếp tục chuyến tham quan của mình, thăm Tượng đài Washington sừng sững soi bóng xuống Hồ phản chiếu, thăm Đài tưởng niệm Iwo Jima, Đại lộ Hiến Pháp, Nghĩa trang quốc gia Arlington, … Tất cả lướt qua màn hình trên nền lá quốc kỳ Mỹ phấp phơi tung bay. Những cú cắt cảnh, chuyển cảnh mượt mà kết hợp với góc máy rộng đem lại vẻ choáng ngợp trước một Washington hoa lệ. Cuối cùng, Smith dừng chân tại Đài tưởng niệm Lincoln. Và Abraham Lincoln, “ông ấy ở đó, nhìn thẳng vào anh khi anh bước lên những bậc thang dẫn vào bên trong”. Ông “ngồi đó như thể đang đợi ai đó tới”. Phía xa xa là tấm văn bia khắc bài Diễn văn Gettysburg, nơi một cậu bé đang bập bẹ đánh vần từng câu của bài diễn văn cho một cụ già nghe. Tại đây, Lincoln cuối cùng cũng được gặp con người mình vẫn đợi chờ sau bao năm trời, một người “cố gắng nhân rộng tư tưởng của ông”, một người “thấu hiểu công việc của ông và lao vào nó”: Ngài Smith vừa tới Washington. Cũng chính tại đây, Frank Capra đã gạt đi được tất cả những do dự, hạ được toàn bộ quyết tâm để thực hiện nên một trong những bộ phim xuất sắc nhất lịch sử điện ảnh về đạo đức, lý tưởng, về giá trị của mỗi cá nhân, nền dân chủ và tự do. Áp phích phim. Ảnh: IMDb Tác phẩm mẫu mực được nhào nặn nên từ bàn tay của một đạo diễn mẫu mực Frank Capra có thể được coi là nhà làm phim xuất chúng nhất của thập niên ’30 mặc dù di sản ông để lại cho điện ảnh thế giới còn trải dài trên cả hai thập nhiên ’20 và ’40 hay thậm chí là cả hai thập niên sau đó. Ông nổi tiếng với một phong thái làm việc chỉn chu, cầu toàn; từ khâu tuyển chọn diễn viên, chỉ đạo diễn xuất, quay phim đến dựng phim, ông đều kỹ lưỡng trong từng chi tiết nhỏ nhặt nhất. “Mr. Smith Goes to Washington” có thể được coi là tác phẩm tiêu biểu cho phong thái đó. Cầm trên tay tập kịch bản của Sidney Buchman, điều đầu tiên Capra trăn trở là làm sao để có thể chọn được những diễn viên phù hợp nhất cho các nhân vật trong phim, dù cho nhân vật đó chỉ xuất hiện vài phút trên màn ảnh hay đảm nhiệm vài lời thoại, bởi với ông, một diễn viên luôn là ngôi sao của khung hình mà người đó hiện diện. Chính vì vậy mà ngay từ những cảnh quay đầu tiên của phim, ta đã có thể bắt gặp rất nhiều diễn viên nổi tiếng. Trong số họ, có những người được Capra nhiều lần sử dụng xuyên suốt các tác phẩm của mình, cho các vai diễn chính diện phản diện khác nhau, thuộc các tầng lớp và nghề nghiệp khác nhau. Nếu để ý kỹ ta sẽ thấy những bộ phim đỉnh cao của ông đều có được một dàn diễn viên hoàn hảo với diễn xuất bổ trợ và làm nổi bật lẫn nhau. Sở dĩ Capra có thể làm được như vậy bởi ông luôn tạo được thiện cảm tốt đối với các diễn viên, và phần lớn họ cũng rất thích được làm việc cùng ông; khác với Alfred Hitchcock cho rằng “diễn viên nên được đối xử như gia súc”. Frank Capra cùng Jimmy Stewart và Jean Arthur trên trường quay. Ảnh: IMDb Nhân vật chính, một chàng thanh niên ái quốc ngây ngô, mang trong mình những lý tưởng Mỹ tới Washington để thay thế cho vị Thượng nghị sĩ vừa qua đời của bang mình nơi anh phải đấu tranh chống lại mưu đồ tham nhũng trong một bộ máy chính trị suy đồi, được Capra nhắm ngay cho Jimmy Stewart, tuy khi ý tưởng về bộ phim mới được đưa ra, Gary Cooper mới là người đầu tiên ông nghĩ tới cho một bộ phim tiếp nối “Mr. Deeds Goes to Town” 2 năm trước đó. Có thể khẳng định không ai thích hợp vào vai Jefferson Smith hơn Jimmy Stewart. Dáng vẻ trẻ con, đặc sệt miền Trung Tây Hoa Kỳ (Stewart sinh ra ở thị trấn Indiana, Pennsylvania), nhưng vẫn toát lên sự liêm chính, mạnh mẽ và trí tuệ khiến ông hội tụ đủ các phẩm chất cho một vai diễn sẽ nâng tầm ông lên thành ngôi sao hàng đầu Hollywood mà Capra đã sớm nhìn ra. “Mr. Smith Goes to Washington” thắt chặt tình bạn đã bắt đầu trước đó từ “You Can’t Take It with You” của Jimmy Stewart và Frank Capra, một tình bạn keo sơn kéo dài suốt cuộc đời hai người. Ba trong số những tác phẩm lớn nhất của Capra là sản phẩm từ sự kết hợp của bộ đôi: hai phim kể trên và “It’s a Wonderful Life”, bộ phim truyền cảm hứng nhất mọi thời đại trong lòng người dân Mỹ. Vai nữ chính trong phim, Clarissa Saunders, cô thư ký được giao nhiệm vụ “trông nom” Smith, một cô gái thông minh, khôn khéo, từng trải trong chính trị, ban đầu không ưa Smith vì những lý tưởng theo cô là “giả dối” anh mang trong mình đồng thời lợi dụng anh để kiếm chác cho bản thân, nhưng dần bị thuyết phục bởi đức tính thật thà, liêm chính, đôi lúc là khờ dại của Smith, cũng được Capra dành riêng cho Jean Arthur, người mà ông đã nhiều lần khẳng định là nữ diễn viên yêu thích của mình mặc dù kiều nữ xuất hiện nhiều nhất trong các phim của Capra có lẽ là Barbara Stanwyck. Jean Arthur luôn được coi là người tạo nên diện mạo cho thể loại phim screwball comedy (tạm dịch: hài kịch điên), một nữ diễn mang tất cả vẻ đẹp ngoại hình và tâm hồn, nét cá tính, mạnh mẽ của một người phụ nữ Mỹ lý tưởng. Một trong những học trò của bà có nữ diễn viên Meryl Streep nổi tiếng ngày nay. Dù là một minh tinh lớn trong thời kỳ phim câm nhưng Arthur vẫn gặp không ít khó khăn khi điện ảnh bước sang kỷ nguyên phim tiếng, bởi chất giọng rất đặc biệt mà sau đó được bà biến thành một đặc trưng của riêng mình: một chất giọng cao, trong trẻo, mà có phần lanh lảnh, thánh thót. Chính vẻ đẹp và giọng nói của bà đã thu hút Frank Capra trong một lần ông bắt gặp bà tại một buổi quay phim ở Columbia Pictures. Cơ duyên cũng đến với Arthur từ đây khi Capra chọn bà đóng cặp cùng Gary Cooper trong “Mr. Deeds Goes to Town”, khởi đầu cho sự hợp tác giữa hai người trong ba bộ phim thành công nhất của Capra, và “Mr. Smith Goes to Washington” chính là dấu mốc kết thúc. Jean Arthur đôi khi gợi người ta nhớ đến hai nữ diễn viên huyền thoại khác của điện ảnh: Greta Garbo và Setsuko Hara (nàng thơ trong các phim của thi sĩ điện ảnh Ozu Yasujirō). Bà có một đời tư khá kín đáo, tránh xa các cuộc phỏng vấn, các nhiếp ảnh gia và từ chối tham gia mọi hoạt động quảng bá. Điều này phần nào tương đồng với sự nhút nhát của bà trên trường quay. Jean Arthur đặc biệt ngại ngùng khi phải thực hiện các cảnh quay cận (close-up) với một người giám sát kịch bản đọc lời thoại thay vì cả dàn diễn viên đứng xung quanh. Để khắc phục điều này, trong những cảnh quay cận của bà, Capra đã thiết kế một hệ thống cho phát băng ghi âm từ cảnh quay gốc (master shot) với một chiếc nút bấm gần ghế ngồi của mình; khi Arthur đọc lời thoại của mình, ông tắt băng đi, và khi bà kết thúc, ông lại bật băng lên, tạo cho bà cảm giác như khi có các diễn viên khác bên cạnh. Hiệu quả của phương pháp này ta có thể thấy rõ trên màn ảnh, diễn xuất của bà không hề bị lu mờ mà thậm chí đôi lúc còn lấn át cả Jimmy Stewart vốn là điểm sáng lớn nhất của bộ phim. Jimmy Stewart và Jean Arthur. Ảnh: Film Forum Capra luôn tận tâm với các diễn viên nhưng vẫn tạo được cho họ cảm giác thoải mái nhất trên trường quay. Ông để cho diễn viên tự do với lời thoại của mình, chỉ thực sự can thiệp và chỉnh sửa cho họ khi những thay đổi của họ ảnh hưởng đến ý nghĩa câu chuyện hay chủ ý của ông. Và khi phải thực hiện lại một cảnh quay (một take), ông sẽ giải thích kỹ càng lý do tại sao cho các diễn viên. Điều này cũng giúp ông hạn chế được số lần thực hiện lại một cảnh quay, tiết kiệm được nhiều chi phí, đặc biệt có ích khi ông phải làm việc với ông chủ Columbia Pictures lúc bấy giờ là Harry Cohn, một người rất khắt khe trong vấn đề kinh phí (trước đó đã bác bỏ đề nghị làm một bộ phim về Frédéric Chopin của Capra vì cho rằng một bộ phim âm nhạc sẽ rất tốn kém). Harry Cohn có một quy định đối với các đạo diễn là họ có thể thực hiện nhiều take, nhưng chỉ có thể in một. Điều đó gây trở ngại cho Capra vì đôi khi các take khác nhau lại có những phần nhỉnh hơn có thể được tận dụng để ghép nối với nhau tạo thành cảnh quay hoàn chỉnh. Và Capra đã nghĩ ra một kỹ thuật (có thể gọi là một mẹo) mà về sau được rất nhiều các đạo diễn sử dụng; ông cho máy quay bắt đầu quay, thực hiện một take, rồi sau đó để máy quay tiếp tục quay và thực hiện lại (“Keep the camera rolling. Let’s do it again”, một câu nói đã trở nên phổ biến ngày nay); sau đó in cả một take dài, cắt ra những phần ưng ý và ghép lại với nhau. Khi bản phim cuối cùng được trình chiếu, ta sẽ không nhận ra điều này, nhưng sự mượt mà trong diễn xuất và tương tác của các diễn viên đã nói lên tất cả. Edward Arnold, diễn viên phản diện yêu thích của Capra, tiếp tục được ông ủy thác cho vai diễn Jim Taylor, một ông trùm nắm trong tay toàn bộ hoạt động kinh tế, chính trị, truyền thông của bang, một kẻ có đủ quyền lực để điều khiển cả nghị sĩ Quốc hội và giật dây mọi âm mưu tham nhũng trong chính quyền. Ở Edward Arnold, ta thấy rõ một sự cương nghị, quyết đoán, lạnh lùng, chút tàn nhẫn, và sự tự tin tuyệt đối vào những nguyên tắc của bản thân. Vì lẽ đó mà Capra không cần suy nghĩ nhiều khi chọn ông vào vai những Anthony P. Kirby, D.B. Norton hay Jim Taylor. Không một người xem Capra nào mà không ám ảnh trước nụ cười ma mãnh của D.B. Norton khi lau cặp kính trên tay trong “Meet John Doe”. Tuy nhiên, xét về mặt thủ đoạn, Jim Taylor có lẽ là kẻ phản diện số một của Capra. Chỉ một cuộc đối thoại “dằn mặt” với người bạn lâu năm Joseph Paine trong căn phòng khách sạn thôi cũng đủ cho khán giả thấy được quyền lực tối thượng mà hắn nắm trong tay. Và đến gần cuối phim, từ một chiếc bàn trong tòa soạn báo với chiếc điện thoại trong tay, hắn kích động toàn bộ các phương tiện truyền thông, toàn bộ quần chúng nhân dân của bang đứng lên chống lại Smith. Không một giây đắn đo, không một chút ngạc nhiên, hốt hoảng, do dự trong các hành động của hắn. Ngay cả khi bộ phim kết thúc, ta cũng không được thấy Taylor chịu trận, và không ít người phải tự hỏi liệu hắn có còn tiếp tục nghĩ ra những mưu mô, thủ đoạn hèn hạ nào khác để hạ gục Smith không. Cùng sát cánh bên Edward Arnold là Claude Rains, một huyền thoại khác của điện ảnh Mỹ, vốn nổi tiếng với những vai “phản diện có học thức”. Vẻ ngoài chính trị gia của ông đã gây ấn tượng với Capra, và ý tưởng về vai diễn một con người chính trực bị hoàn cảnh ép buộc đi theo con đường nhơ nhuốc nhưng cuối cùng nhận ra lỗi lầm của mình để rồi phục thiện hoàn toàn phù hợp với Rains. Joseph Paine không phải là một con người xấu, bản thân ông vẫn luôn ý thức được những hành động sai trái của mình nhưng ông phải “thỏa hiệp”, khi những lý tưởng ngày trước ông cũng từng tin vào như Smith không có ý nghĩa gì trong thế giới tàn bạo này, để ông có thể “phục vụ nhân dân theo hàng ngàn con đường liêm chính khác”. Paine vẫn luôn yêu quý Smith, trân trọng đức tính thật thà của anh và gắng hết sức giữ anh tránh xa khỏi con đường mà ông đang đi. Nhìn Taylor hãm hại Smith, Paine nhiều lúc cũng không thể cầm lòng; sự giằng xé bên trong con người này được Rains thể hiện hết sức tự nhiên mà sâu sắc, cụ thể: từ những ái ngại khi Taylor quyết tâm thực hiện đến cùng mưu đồ tham nhũng của mình, nét mặt chùng xuống mỗi khi hắn hả hê vì đã hạ gục được Smith, đến những cái lắc đầu đau đớn sau khi phải nghe lệnh Taylor công kích, vu oan cho thanh danh của Smith. Joe Paine là nhân vật gián tiếp gây ra những xung đột trong bộ phim đồng thời cũng là người trực tiếp kết thúc những xung đột đó, và nam diễn viên với những vai diễn để đời trong “Casablanca” của Michael Curtiz, “Notorious” của Alfred Hitchcock hay “Lawrence of Arabia” của David Lean đã được Capra chọn mặt gửi vàng. Claude Rains và Edward Arnold. Ảnh: Sony Pictures Người cộng sự của Saunders, Diz Moore lại được giao cho Thomas Mitchell thủ vai bởi một lý do khá thú vị: ông là người thuận tay trái. Theo ý kiến của một người trong đoàn làm phim, những người thuận tay trái thường là người có cá tính, rất thích hợp cho một nhân vật như Diz Moore, và thế là Capra chọn Mitchell, diễn viên thuận tay trái nổi tiếng nhất lúc bấy giờ và cũng từng hợp tác với ông trong “Lost Horizon” vào năm 1937 (bộ phim đã tạo nên danh tiếng cho Mitchell). Tuy Diz không phải là một nhân vật quá quan trọng trong phim, nhưng diễn xuất của Thomas Mitchell vẫn là một điểm nhấn lớn trong bố cục tổng thế của nó. Nếu tập trung vào nhân vật Diz, ta sẽ thấy những hành động, lời nói vô cùng hài hước, thâm sâu được thể hiện hết sức tinh tế, nhẹ nhàng. Chỉ riêng trong năm 1939, Thomas Mitchell đã góp mặt vào ba trong số những vai diễn lớn nhất sự nghiệp của ông: Gerald O’Hara, cha của Scarlett O’Hara trong “Gone with the Wind”, bác sĩ Boone trong tác phẩm viễn tây vô song của John Ford – “Stagecoach” – và Diz Moore trong “Mr. Smith Goes to Washington”. Tuy nhiên, phát hiện lớn nhất của Frank Capra trong bộ phim này phải kể đến Harry Carey trong vai Chủ tịch Thượng viện và Phó Tổng thống Mỹ. Đây là một vai diễn chỉ có khoảng hai chục lời thoại và đa phần là những câu mệnh lệnh, phán quyết trong phiên họp Thượng viện nhưng lại mang tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển nội dung câu chuyện. Vị Chủ tịch này có thể được coi là tiếng nói của đạo diễn trong phim; những ánh nhìn, nụ cười, giọng điệu của ông có lẽ cũng chính là những cảm xúc chủ quan của Capra. Ông bênh vực Smith khi anh lần đầu bước chân vào căn phòng họp, cho phép anh nói lên suy nghĩ và phản kháng trước những vu khống của Taylor và Paine, mỉm cười hiền từ động viên trong lúc anh bị chúng dồn đến bước đường cùng. Trong một bộ phim với nội dung khá bi quan, đạo diễn đã gửi gắm vào nhân vật này tất cả niềm tin về công lý, bình đẳng, công bằng trong bộ máy cầm quyền và rộng ra là cả xã hội. Ban đầu, Capra đề nghị vai diễn cho một tài tử khác nhưng người diễn viên nọ đã rất tức giận từ chối vì chỉ được mời đóng một vai phụ nhỏ như vậy (một quyết định về sau khiến ông phải hối hận). Vì thế, Capra quyết định chọn Harry Carey – một diễn viên không mấy nổi tiếng nhưng có gương mặt gây cho ông thiện cảm. Carey đã gặp không ít khó khăn khi bắt đầu thực hiện những cảnh quay đầu tiên vì trước đó ông vốn chỉ quen với dòng phim viễn tây; trong cảnh lễ tuyên thệ nhậm chức của Smith, ông phải diễn lại rất nhiều lần. Capra gọi ông ra một chỗ và khuyên nhủ ông “đừng nghĩ mình là một diễn viên phải đọc những lời thoại này mà hãy nghĩ mình là Chủ tịch Thượng viện đang chứng giám cậu Thượng nghị sĩ trẻ tuyên thệ, là Phó Tổng thống Hoa Kỳ”. Từ đó, Carey bắt đầu diễn thoải mái hơn và thực sự hóa thân vào nhân vật. Khi bộ phim ra mắt, diễn xuất của Harry Carey được giới chuyên môn đánh giá là ngang hàng, thậm chí là nhỉnh hơn Claude Rains, và chỉ thua kém mỗi Jimmy Stewart. Theo dõi Carey diễn, ta thấy ấm lòng, hả hê, mừng rỡ trước những bất công mà chàng thanh niên ái quốc ngây ngô Smith phải chịu đựng. Cảnh phim kết thúc với nụ cười mãn nguyện của vị Chủ tịch Thượng viện trong căn phòng họp lúc này đã vô cùng hỗn loạn cho ta hy vọng về một cái kết tốt đẹp hơn cho lý tưởng mà đạo diễn muốn khắc họa, một cái kết ngoài màn ảnh mà ông để ngỏ cho khán giả tự tìm kiếm câu trả lời bằng niềm tin của chính bản thân mỗi người. Harry Carey là minh chứng hùng hồn nhất cho chân lý: tài năng của một diễn viên không nằm ở những lời thoại anh ta thể hiện mà nằm ở khả năng anh ta thổi hồn vào nhân vật trong câu chuyện, đem lại sức sống cho nhân vật đó và chạm đến trái tim người xem. Harry Carey trong vai Chủ tịch Thượng viện. Ảnh: Sony Pictures Ngoài các nhân vật kể trên, ta cũng có thể dễ dàng nhận ra những diễn viên đã quen mặt trong các bộ phim khác của Capra: Beulah Bondi lần thứ ba (trong số 5 lần) làm “mẹ” của Jimmy Stewart (lần tiếp theo là 7 năm sau trong “It’s a Wonderful Life”); Dub Taylor (người từng đến gặp Capra để xin một vai diễn và được ông lựa chọn cho nhân vật Ed Carmichael trong “You Can’t Take It with You” chỉ vì … biết chơi mộc cầm; sau này xuất hiện trong rất nhiều tác phẩm của ông và trở thành một diễn viên nổi tiếng) có một vai nhỏ – phóng viên tờ báo của Tọc mạch (Nosey) phỏng vấn Smith khi anh vừa tới Washington; hay Guy Kibbee trong vai Thống đốc bang Hopper, Charles Lane trong vai Tọc mạch, H.B. Warner trong vai lãnh đạo phe đa số, … Capra từng nói: “Các diễn viên là cách tôi kể câu chuyện của mình”, và với một dàn diễn viên lý tưởng như vậy, ông đã tạo nên bộ phim thành công nhất trong một năm với rất nhiều tác phẩm kinh điển: “Gone with the Wind”, “The Wizard of Oz”, và hai phim xuất sắc hơn cả: “Ninotchka” của Ernst Lubitsch và “Stagecoach” của John Ford. Người ta thường nhắc đến “It’s a Wonderful Life” như bộ phim xuất sắc nhất của Capra, nhưng chắc chắn “Mr. Smith Goes to Washington” mới là bộ phim hoàn hảo nhất về mặt kỹ thuật. Giá trị của “It’s a Wonderful Life” (và cũng là giá trị then chốt của một tác phẩm nghệ thuật) nằm ở mặt cảm xúc mà nó đem lại cho người xem, cách nó làm người ta khóc, cười, giận dữ, lo lắng, hạnh phúc cùng nhân vật và vỡ òa trong niềm vui hay nỗi buồn khi cái kết được hé mở. Nói vậy không có nghĩa là “Mr. Smith Goes to Washington” không đem lại cảm xúc cho khán giả, bởi xét cho cùng những thành công về kỹ thuật làm phim sẽ chỉ là vô nghĩa nếu chúng không khiến những người thưởng thức nó xúc động. Với bộ phim này, Capra muốn gửi gắm quan niệm của mình về nền dân chủ, tự do, về sức mạnh to lớn của mỗi cá nhân; song song với đó là cả những quan niệm của ông về việc làm phim. Nhiều nhà phê bình từ trước đến nay thường gắn cho “Mr. Smith Goes to Washington” mác một bộ phim chính trị hay một tác phẩm phản ánh hiện thực chính quyền. Chỉ cần nhìn vào cái cách mà các chính trị gia, đặc biệt là các Thượng nghị sĩ kịch liệt chỉ trích bộ phim về sự thiếu chân thực và những hành động đi ngược với đời thường của các nhân vật, ta đã có thể bác bỏ ngay được nhận định trên. Và thực tế là Capra không hề đề cập gì đến Dân chủ hay Cộng hòa, cũng không hề nhắc đến tên bang quê nhà của Thượng nghị sĩ Smith (tuy bộ phim dựa trên cuốn sách không được xuất bản của Lewis R. Foster “The Gentleman from Montana”, là cơ sở để Thượng nghị sĩ bang Montana lúc bấy giờ giận dữ bỏ về giữa buổi chiếu phim). Không hề có đảng phái “đúng” và đảng phái “sai” trong phim. Và dù được làm vào một thời điểm lịch sử khá nhạy cảm của nước Mỹ, bộ phim chỉ kín đáo đề cập đến cuộc Đại khủng hoảng (trong cuộc trò chuyện giữa Smith và Saunders khi hai người cùng nhau soạn thảo dự luật của Smith, cuộc khủng hoảng đã dẫn đến việc bố mẹ Saunders không đủ khả năng chăm lo cho cô và cô phải làm việc từ năm 16 tuổi) hay chiến sự vừa nổ ra ở châu Âu (“khi đất nước cần những con người có kiến thức và can đảm hơn bao giờ hết”, lời một nhân vật nhà báo ở Hiệp hội Báo chí Quốc gia). Những điều đó khiến cho “Mr. Smith Goes to Washington” có giá trị vượt thời gian và biên giới. Capra mượn phông nền chính trị để khắc họa sự quý giá của tự do, ở đây là tự do ngôn luận, tự do hành động theo khuôn khổ luật pháp, và một chút tự do khỏi cuộc sống gò bó chốn thành thị, về với thiên nhiên để phát triển trí tuệ cũng như thể chất cho thế hệ trẻ (mục đích hội trại của Smith); nhưng suy rộng ra, ta có độc lập và tự do của cả một dân tộc khỏi ách nô lệ (những viện dẫn của Smith về lịch sử nước Mỹ thời đại Washington, Jefferson, Lincoln). Không phải ngẫu nhiên mà bộ phim rất được yêu thích ở Pháp vào 2 tuần cuối trước khi đất nước này bị Đức chiếm đóng và cấm chiếu các phim Mỹ. Chỉ khi sắp mất đi tự do, người ta mới biết nó quý giá đến nhường nào. Tiếng nói của Smith trong Thượng viện Hoa Kỳ cũng chính là tiếng nói của Frank Capra, một người Mỹ với một lòng “nồng nàn yêu nước”. Di cư sang Mỹ cùng gia đình từ năm 5 tuổi (trong bài phát biểu trước Viện phim Mỹ AFI, ông bồi hồi nhớ lại ngày gia đình ông đặt chân lên đảo Ellis từ Sicily xa xôi, cha ông đã cúi xuống và hôn lên mặt đất), hơn ai hết Capra hiểu rõ giá trị của tự do, nhưng là thứ tự do mà mọi người đều có thể “đặt nó lên trước ngực mình mỗi ngày trong đời”. Và đó ít nhiều là một chủ đề xuyên suốt trong các tác phẩm của ông: sức mạnh của mỗi con người, dù là nhỏ bé đến đâu, trong việc tạo nên sự thay đổi. Tuy nhiên, ở “Mr. Smith Goes to Washington”, Capra lại gặp phải một khó khăn: kẻ “thấp cổ bé họng” của ông có chiều cao vượt trội so với các diễn viên khác trong phim: Jimmy Stewart cao hơn Claude Rains và Jean Arthur hẳn một cái đầu. Điều này, đối với một đạo diễn cầu toàn như Capra, làm giảm rất nhiều hiệu quả hình thái của các cảnh quay. Và ông đã giải quyết khúc mắc đó bằng cách đánh lừa thị giác của người xem khi liên tục nhấn chìm Jimmy Stewart trong khung hình và để cho đồ vật, cảnh trí hoặc những người bạn diễn làm ông trông thấp bé hơn. Như trong cảnh xuất hiện trên màn ảnh của Smith, Capra xếp Stewart ngồi bên cạnh ghế ngài Thống đốc đang đứng phát biểu. Đầu ông khi đó chỉ vừa quá những bông hoa ở trên bàn. Ảnh: Sony Pictures Trong cảnh quay sau đó khi Smith tới thăm Đài tưởng niệm Washington và Đài tưởng niệm Lincoln, Capra quay Stewart bằng những góc máy thấp và rộng ngước nhìn công trình bằng đá cẩm thạch sừng sững và bức tượng Abraham Lincoln khổng lồ. Smith lúc này chỉ như một chấm nhỏ trong dòng lịch sử vô tận của đất nước. Ảnh: Sony Pictures Những hình ảnh này còn cho thấy sự tự ti của Smith vì cho rằng mình thiếu kinh nghiệm cũng như năng lực chính trị cần thiết cho chức vụ được bổ nhiệm. Đây chính là mâu thuẫn nội tâm trong suốt thời gian anh xuất hiện trên màn ảnh, và cuộc chiến của anh, nhìn từ một góc độ khác, chính là cuộc chiến với mặc cảm của bản thân, rằng mình không xứng đáng với trách nhiệm được giao phó trong bộ máy Nhà nước. Khi Smith lần đầu tiên bước vào phòng họp Thượng viện, máy quay được đặt từ một hành lang của căn phòng, khiến anh lẫn vào đám đông các Thượng nghị sĩ khác. Ảnh: Sony Pictures Sau đó Smith ngồi vào bàn của mình, và từ góc máy này, anh lại tiếp tục bị cậu bé phục vụ lấn át: Ảnh: Sony Pictures Rồi khi thực hiện nghi lễ nhậm chức: Ảnh: Sony Pictures Khi ở trụ sở Hiệp hội Báo chí và bị đám nhà báo giễu cợt: Ảnh: Sony Pictures Hay khi nghe Saunders thuyết giáo về những khó khăn để một dự luật được thông qua: Ảnh: Sony Pictures Smith là thủ lĩnh của đội Boy Rangers (tạm dịch: Thiếu sinh Hướng đạo), một công việc đem lại cho anh lý tưởng và nhiệt huyết của tuổi trẻ; nhưng đôi khi khiến anh có những cử chỉ, hành động rất trẻ con: Ảnh: Sony Pictures Dáng ngồi của anh không chỉ cho thấy sự nhỏ bé mà còn như thể đang nghe người ta lên lớp về những lý tưởng đặt nhầm chỗ và hiện thực chính quyền trong Quốc hội, cụ thể là Thượng viện. Dần dà, Smith nhận ra sự suy đồi của bộ máy chính trị bang mình và âm mưu tham nhũng của con người mình vẫn luôn ngưỡng mộ Joseph Pain. Khi đó, anh được Taylor mời đến gặp mặt riêng với hắn. Lời đầu tiên Taylor nói với Smith là: “Thượng nghị sĩ, tôi vừa mới ghé qua. Tôi nghĩ tôi muốn gặp cậu. Ngồi xuống đi.” Smith tuân theo. Ảnh: Sony Pictures Sau khi nghe Taylor cho biết toàn bộ sự thật, Smith tới “chất vấn” Joe Paine. Paine bảo anh hãy bình tĩnh và ngồi xuống ghế. Nhưng lúc này Smith thẳng thừng trả lời: “Cháu không muốn ngồi.” Ảnh: Sony Pictures Ngày hôm sau, trong phiên họp Thượng viện, ngay khi Smith định tố cáo Paine thì vị Thượng nghị sĩ cáo già hơn đã đi trước một bước, dùng chính âm mưu tham nhũng của mình và Taylor gán tội cho anh. Smith phải đối diện với nguy cơ bị phế truất khỏi chức vụ đang nắm giữ. Trong cơn tuyệt vọng, anh trở lại Đài tưởng niệm Lincoln nơi trước đó anh từng thán phục ngước nhìn bức tượng của Người giải phóng vĩ đại và bài diễn văn bất hủ Gettysburg. Lần này anh đến vào ban đêm, khu tưởng niệm chìm trong bóng tối, hệt như tâm trạng anh đang chìm trong nỗi chán nản và sẵn lòng bỏ cuộc. Smith ngồi phủ phục trên chiếc va-li như một biểu hiện của sự thất bại hoàn toàn trước một Washington, D.C mà anh chưa bao giờ nghĩ tới trong đời: Ảnh: Sony Pictures Thế rồi Saunders xuất hiện và cho anh hy vọng, thuyết phục anh đứng dậy tiếp tục chiến đấu, như cái cách mà chính anh đã cho cô hy vọng ở “sự ngay thẳng, chính trực và những đức tính tốt đẹp thường ngày” của anh. Hai người cùng bàn thảo kế hoạch đối phó với Paine và chứng minh sự trong sạch của Smith: filibuster (cản trở dự luật). Smith nắm quyền phát biểu trong phiên họp Thượng viện để ngăn cản cuộc bỏ phiếu phế truất anh, đồng thời giúp cho bạn bè anh có đủ thời gian tìm kiếm bằng chứng chứng minh anh vô tội. Lúc này, dưới máy quay đặt ở góc thấp của Capra và với chiều cao vốn có của Jimmy Stewart, đến lượt những vị Thượng nghị sĩ khác đang cắm cúi đọc những tờ báo để trêu tức Smith lại bị nhấn chìm đằng sau những chiếc bàn; người “thấp cổ bé họng” nhất trong căn phòng đã không còn thấp bé nữa, anh đã đứng trên chính đôi chân của mình, bằng tất cả niềm kiêu hãnh vốn có của một công dân trên “miền đất của người tự do”, nói chuyện phải trái với những kẻ đang nắm trong tay vận mệnh đất nước. Ảnh: Sony Pictures Đây chính là thứ mà Capra gọi là “nguyên tắc thép về hình thức và kỹ thuật” trong cuốn tự truyện “The Name Above the Title” của mình. Ống kính máy quay của nhà quay phim Joseph Walker cho ta những khung hình tuyệt đẹp (mặc dù chưa thể đạt tới mức cách tân khi chỉ chủ yếu tập trung vào những cú máy tầm trung đơn giản đồng thời giảm tối thiểu cắt chuyển giữa các cảnh nhằm giữ nhịp độ phù hợp cho bộ phim, một thủ pháp đặc trưng của Capra kể từ “American Madness”); như cảnh phim Smith đến nhà Joe Paine và tình cờ gặp con gái ông, Susan Paine, Walker sử dụng góc máy gần để quay bàn tay đang cầm mũ lập bập của Smith khi anh nói chuyện với cô gái; hay những cú quay cận cảnh lấy nét mềm (soft focus) gương mặt của Jean Arthur và những cú máy rất rộng quay căn phòng họp Thượng viện (chính xác là một bản sao của căn phòng thật trong phim trường Columbia Pictures được Capra “bê nguyên xi” từ Thượng viện về). Khi kịch tính phim tăng dần, tốc độ cắt cảnh cũng nhanh hơn, và độ dài mỗi phân cảnh giảm đi đáng kể, những cảnh dựng xen kẽ (cross-cutting) xuất hiện ngày một nhiều; máy quay không hề di chuyển trong suốt các cảnh quay trong phòng họp, thay vào đó là những cú cắt cảnh với tốc độ cao để thay đổi góc độ hoặc chuyển đổi vị trí. Jean Arthur dưới ống kính máy quay của Joseph Walker. Ảnh: Sony Pictures Điểm nhấn lớn nhất trong nghệ thuật dựng phim của “Mr. Smith Goes to Washington” phải kể đến những chuỗi montage (tập hợp những cảnh ngắn diễn tả một chuỗi hành động theo thời gian; khác với Montage Xô Viết, một thủ pháp dựng phim) với nhịp độ cao được dựng bởi Slavko Vorkapić (người có thể được coi là một đối trọng ở Hollywood với Sergei Eisenstein – cha đẻ của Montage Xô Viết), điển hình là trường đoạn Smith giận dữ bước ra khỏi Thượng viện sau khi tuyên thệ nhậm chức và “tẩn” tất cả phóng viên của tờ báo đã đăng tin sai lệch về anh cũng như những ai cười nhạo khi đọc các bài viết đó. Smith lúng túng khi gặp Susan Paine. Ảnh: Sony Pictures Âm nhạc của Dimitri Tiomkin, nhà soạn nhạc nổi tiếng Hollywood, với những “Columbia, the Gem of the Ocean”, “Yankee Doodle”, “The Star-Spangled Banner” (Quốc ca Mỹ), … hay đặc biệt là “Auld Lang Syne” (bài hát rõ ràng có một vị trí rất đặc biệt trong lòng Capra; ông đã sử dụng nó cho cảnh “ngài” Deeds chia tay Mandrake Falls, giờ lại tiếp tục được lồng ghép trong cảnh chia tay của “ngài” Smith, và 7 năm sau, cả dàn diễn viên của “It’s a Wonderful Life” cùng hát vang “Auld Lang Syne” trong đêm Giáng sinh tiếp tục lấy đi nước mắt của không ít khán giả), cùng những bản nhạc Americana do chính Tiomkin sáng tác nên, đã khiến bộ phim có một sức sống bất diệt trong lòng người dân Mỹ mọi thế hệ. Cái cách mà một người Nga di cư sang Hoa Kỳ vào thập niên ’20 có thể viết nên những bản nhạc đậm chất Mỹ đến như thế vẫn khiến không biết bao người yêu điện ảnh phải ngạc nhiên thán phục. Một cá nhân ngay thẳng đơn độc chống lại một bộ máy những kẻ thủ đoạn có thế lực là đề tài chủ đạo Capra khai thác trong những bộ phim ở giai đoạn đỉnh cao sự nghiệp của mình. Longfellow Deeds trong “Mr. Deeds Goes to Town” bị những tên luật sư cơ hội của người chú quá cố cáo buộc có vấn đề về thần kinh hòng cướp đoạt món tiền thừa kế mà anh định dùng để giúp đỡ những người nông dân sa cơ lỡ vận trong cuộc Đại khủng hoảng đã suýt buông bỏ để cho chúng vu oan mình. John Doe trong “Meet John Doe” bị tên trùm tài phiệt D.B. Norton gài bẫy nhằm thực hiện mưu đồ tranh cử Tổng thống bằng cách chà đạp lên niềm tin của những người dân Mỹ, chọn cách nhảy khỏi nóc nhà tòa Thị chính để chứng minh cho phép màu ngày lễ Giáng sinh đã sắp thành hiện thực, trước khi cô nhà báo Ann Mitchell cùng mọi người trong Hội John Doe kịp thời ngăn cản. Hay cả George Bailey trong “It’s a Wonderful Life”, khi bị tên tư bản Potter hãm hại, cũng mất niềm tin vào “cuộc sống diệu kỳ” của mình, tìm đến cái chết nếu không có vị thiên thần Clarence giáng thế “giải cứu”. Bởi chính niềm tin của Capra trong công việc làm phim cũng đôi lúc lung lay dữ dội như vậy. Trong cuốn tự truyện của mình, ông chia sẻ mình thường hay chùn bước trước những thôi thúc bỏ cuộc khi công việc sắp hoàn thành. Với “Mr. Smith Goes to Washington”, thôi thúc đó đến trong một buổi họp báo tại Nhà Trắng trước khi bộ phim được lên lịch quay, khi ông nghe Tổng thống Franklin Roosevelt phát biểu trước truyền thông về “tình hình leo thang ở Châu Âu và Thái Bình Dương”. Lúc đó, Capra thực sự “hoang mang”, vì bộ phim ông sắp làm có thể ảnh hưởng xấu đến bộ mặt nước Mỹ trên trường quốc tế. Lòng đầy hoài nghi, Capra đến thăm chính nơi mà nhân vật anh hùng của ông đã tập trung được can đảm để chiến đấu, chứng kiến chính xác những gì anh đã chứng kiến: một cậu bé bi bô đọc bài Diễn văn Gettysburg cho một cụ già, “một dấu hiệu” cho ông niềm tin mà ông cần phải tiếp nối. Lần thứ hai Smith tới Đài tưởng niệm Lincoln khi niềm tin lung lay, dự tính sẽ bỏ cuộc và rời khỏi Washington, thất bại tạm thời của anh lúc này là do thiếu tự tin vào bản thân và suy nghĩ quá nhiều hơn là do những mưu mô, thủ đoạn của Taylor và Paine. Khi Smith thôi ủ rũ và bắt tay vào thực hiện kế hoạch cản trở dự luật, anh đã thành công. Đây là một quan niệm khác về làm phim nói riêng và về cuộc sống nói chung của Capra: đừng suy nghĩ nhiều, hãy hành động. Cuộc cản trở dự luật của Smith chính là sự tổng hợp tất cả các quan niệm của Capra vào trong một mô-típ điển hình: đầu hàng trước sức ép từ các thế lực gian ác, hay vùng lên chiến đấu cho lý tưởng tươi đẹp. Chiến công của Smith ở cuối phim, với Capra, không hẳn là chiến thắng trước bộ máy chính trị của Taylor (bộ phim kết thúc với cuộc cản trở dự luật thành công của Smith, ta không biết được điều gì xảy ra với Taylor cũng như bè cánh của hắn), mà chỉ đơn giản là hành động cao đẹp đứng lên đấu tranh cho những gì mình tin tưởng. Một cái kết cho ta niềm tin nhiều hơn là thông tin. Diễn xuất vô tiền khoáng hậu đã đi vào lịch sử của Jimmy Stewart Nhắc đến “Mr. Smith Goes to Washington”, người ta thường nhắc nhiều nhất đến Jimmy Stewart, và giá trị lịch sử lớn nhất của bộ phim nằm ở chỗ: nó đã làm nở rộ lên một tài năng xuất chúng bậc nhất Kỷ nguyên vàng của Hollywood, và mãi về sau cũng khó có người có thể vươn được đến tầm cỡ đó. Nhìn vào sự nghiệp của Jimmy Stewart, ta thấy rõ một sự thật: lịch sử đã dọn sẵn chỗ cho ông để trở thành một tượng đài bất diệt của điện ảnh. Bộ phim đầu tiên thật sự tạo dựng được danh tiếng cho Stewart là “You Can’t Take It with You” (1938) của chính Frank Capra. Từ đó trở đi, Stewart trở thành diễn viên yêu thích của Capra, người mà ông vẫn hằng tìm kiếm cho những bộ phim của mình (ngay cả Clark Gable hay Gary Cooper cũng không hoàn toàn thỏa mãn ông). Ngay từ bộ phim đầu tiên hợp tác với Stewart, Capra đã tiên tri rõ được tương lai của điện ảnh: “Tôi nghĩ cậu ấy gần như là diễn viên xuất sắc nhất từng xuất hiện trên màn bạc”. Chỉ một năm sau thôi, tiên đoán của Capra đã trở thành sự thật, khi mà “ngài Smith tới Washington”. Jimmy Stewart luôn hiểu rõ hình mẫu của nhân vật mình vào vai bằng trực giác nhạy bén, và rất ít cần chỉ đạo diễn xuất. Đạo diễn thứ hai nhìn rõ điều này là Ernst Lubitsch (người kiến tạo nên Hollywood hiện đại) khi ông chọn Stewart vào vai chính trong tác phẩm mà ông biết trước là kiệt tác lớn nhất của đời mình “The Shop Around the Corner”. Dù Margaret Sullavan mới thực sự là ngôi sao lớn nhất của bộ phim, nhưng vai diễn Alfred Kralik ngay từ đầu đã được Lubitsch chủ trương giao cho Stewart trong khi Klara Novak phải kinh qua vài sự lựa chọn mới đến tay Sullavan. Jimmy Stewart là diễn viên nắm rõ Lubitsch Touch (tạm dịch: Phong cách Lubitsch) nhất trong số các tài tử mà ông từng hợp tác. Nếu xem nhiều phim của Lubitsch, ta sẽ để ý thấy các diễn viên trong phim ông như Jack Benny, Herbert Marshall, Miriam Hopkins, Gary Cooper, … thường có một phong cách diễn rất đặc biệt mà họ chỉ thể hiện trong phim của ông. Đó là bởi vì Lubitsch đã diễn mẫu cho họ, để truyền tài đầy đủ nhất Phong cách Lubitsch mà chỉ ông mới có. Nhưng với Jimmy Stewart, ta gần như không thấy điều này, vẫn là một lối diễn tự nhiên chưa bao giờ thay đổi hay mất đi. Có hai cách lý giải, một là phong cách diễn của ông là phù hợp và sáng tạo nhất trong mỗi phân cảnh, không hề ảnh hưởng đến Phong cách Lubitsch, và Phong cách Lubitsch cũng không thể ảnh hưởng đến nó; hai là Stewart hoàn toàn nắm bắt được Phong cách Lubitsch, và ông dung hòa nó với phong cách diễn của mình một cách hết sức tự nhiên, hồ như không thể nhận biết. Dù là thế nào đi nữa, ta cũng thấy được một tài năng xuất chúng khó ai có thể bắt kịp ở ông. Cary Grant, một huyền thoại khác của Hollywood, không lâu sau đã được chứng kiến tài năng đó của Stewart khi hai người đóng chung trong bộ phim cùng năm “The Philadelphia Story” của George Cukor, một bộ phim không hề tầm thường. Cảnh phim Stewart say rượu bước vào nhà C. K. Dexter (do Grant thủ vai) chân thật đến nỗi khiến Grant phải đứng hình và quên mất vai diễn của mình. Sau thời gian phục vụ trong quân ngũ, Stewart tái hợp với Frank Capra trong “It’s a Wonderful Life”, tác phẩm Giáng sinh của mọi thời đại, và một lần nữa diễn xuất của ông lại là tâm điểm của bộ phim. Tuy thất bại về mặt doanh thu, nhưng bộ phim vẫn luôn có một sức sống mãnh liệt trong lòng người yêu điện ảnh nhiều thế hệ và vẫn là một chứng nhân bất diệt cho tài năng của Jimmy Stewart. Thập niên ’50 đánh dấu bước chuyển mình của Stewart khi ông tham gia vào các bộ phim viễn tây của Anthony Mann (tiếp tục để lại một bộ sưu tập những kiệt tác dù không thật sự nổi bật trong sự nghiệp vĩ đại của ông); và đặc biệt là những bộ phim của bậc thầy li kỳ, rùng rợn Alfred Hitchcock. Một đạo diễn nổi tiếng khó tính và cầu toàn như Hitchcock sẵn sàng chọn Stewart vào những bộ phim lớn nhất trong gia tài đồ sộ của mình đủ để ta hiểu Stewart xuất sắc đến cỡ nào. Những “Rope”, “The Man Who Knew Too Much”, và nhất là hai kiệt tác “Rear Window” và “Vertigo” luôn có mặt trong danh sách các cuộc bầu chọn của các tạp chí điện ảnh lớn trên thế giới, thực sự đánh dấu giai đoạn thăng hoa nhất của cả đạo diễn và nam tài tử. “Anatomy of a Murder” của Otto Preminger cũng có thể được coi là một dấu mốc lớn khác của Stewart, một bộ phim tòa án kiệt xuất của điện ảnh Mỹ. Sang đến thập niên ’60, một bậc thầy điện ảnh khác tiếp tục khai thác tài năng của Jimmy Stewart, đó là John Ford với “The Man Who Shot Liberty Valance”. John Ford gây ảnh hưởng lên một thế hệ các nhà làm phim vĩ đại trên thế giới bởi hai tác phẩm viễn tây “The Searchers” và “Stagecoach”, tuy nhiên “The Man Who Shot Liberty Valance” đứng riêng lẻ vẫn có những vẻ đẹp riêng ta không thể tìm kiếm được ở hai bộ phim trên. John Ford cao tay hơn Anthony Mann ở chỗ ông nhìn thấy ở Jimmy Stewart cái vẻ tri thức hơn là những phẩm chất của một tay súng viễn tây, một mảnh ghép hoàn hảo cho một đề tài hoàn toàn khác về miền đất của những chàng cao bồi. Diễn xuất tài tình của Jimmy Stewart. Ảnh: Sony Pictures “Mr. Smith Goes to Washington”, nếu xét về tầm cỡ, chỉ như một chấm nhỏ trong số những bộ phim xuất sắc khác mà ông từng tham gia, giống như Smith chỉ là một chấm nhỏ trong dòng lịch sử; nhưng ở bộ phim này, ta được chứng kiến một Stewart hoàn toàn khác, một Stewart phát tiết hết tất cả những tinh hoa của một người con miền Trung Tây Hoa Kỳ, một viên kim cương chưa được mài dũa nhưng vẫn sáng lấp lánh lạ kỳ. Những câu nói ngây ngô, liến thoắng của Smith trước Saunders khi mới đến Washington, dáng vẻ lúng túng mỗi lúc nói chuyện với Susan Paine (đỉnh điểm là trong cảnh anh cầm chiếc mũ trên tay lập bập hết đánh rơi rồi lại nhặt lên), điệu bộ lắp bắp khi đệ trình dự luật trước Thượng viện, giọng nói khàn đặc (Jimmy Stewart đã phải định kỳ dùng thủy ngân clorua tác động lên dây thanh quản để tạo nên giọng nói này) cùng dáng vẻ rũ rượi, bơ phờ, đôi mắt uể oải, lờ đờ vì đã đứng nói gần một ngày trời liên tục; liệu Gary Cooper được chọn vào vai có thể làm tốt đến thế? Màn diễn của Jimmy Stewart trong suốt thời gian ở phòng họp Quốc hội có lẽ khiến những khán giả khó tính nhất cũng phải “nổi da gà”. Ông làm ta rơi nước mắt, nhưng ngay lập tức lại nhoẻn miệng cười khi khóe mắt vẫn còn chưa khô bởi những câu nói hài hước được Capra và Sidney Buchman đan xen cả vào giữa những tình huống kịch tính nhất. Jefferson Smith dưới diễn xuất của Jimmy Stewart mãi là một nhân vật sống động và đáng nhớ nhất lịch sử điện ảnh, mặc cho bộ phim có nhận được bao nhiêu lời khen chê hay bênh vực, chỉ trích của giới chính trị gia cũng như các nhà phê bình đi chăng nữa. ‘Nước Mỹ’ của Frank Capra Nước Mỹ của Frank Capra là “miền đất của người tự do”, là nơi mà giấc mơ Mỹ được ươm mầm và sinh sôi nảy nở, nơi mỗi cá nhân đều có quyền tự do suy nghĩ và hành động, “một cơ đồ” mà thế hệ đi trước đã “dựng nên sau hàng thế kỷ chiến đấu” và để lại “nền tảng cũng như sức mạnh cho nền dân chủ”. Babe Bennett, Ann Mitchell, Jeff Smith hay Clarissa Saunders đều có những người cha đáng kính truyền cho họ cảm hứng, niềm tin và sức mạnh để thực hiện ước mơ của mình. Họ đều là những người hùng trong mắt con cái mình. Nhưng người hùng của Capra bình dị lắm! Không một tấc sắt trong tay, họ chỉ “bên chiếc bàn nắp cuốn, mũ áo chỉnh tề, chuẩn bị giấy tờ; luôn luôn đội chiếc mũ để sẵn sàng trinh chiến; Clayton Smith, biên tập và chủ báo; người hùng của những lý tưởng đã mất”, luôn nhìn cuộc sống như thể “vừa bước ra khỏi một đường hầm dài tăm tối”; “đề cao đạo đức (ethics) hơn đồng tiền (collections)” dù gia đình chẳng khấm khá gì (cha của Saunders); hay “chẳng nói gì nhiều, nhưng một lần có bảo: ‘Dù chuyện gì xảy ra, con yêu, đừng than phiền’” (cha của Babe Bennett). Và những người con của họ cũng thay họ tiếp nối những lý tưởng đó: Jeff Smith không một chút kiến thức luật pháp nào, đơn thương độc mã chống lại cả một bộ máy chính trị để đòi quyền công bằng cho những đứa trẻ, giáo dục chúng cho tương lai đất nước; Ann Mitchell viết bài diễn văn cho John Doe đoàn kết người dân từ khắp mọi miền đất nước, cho họ cảm hứng về phép màu vẫn còn đâu đó trong cuộc sống. Đó chính là thứ mà những người chê bai Capra gọi là Capra-corn, còn những người trân trọng tầm nhìn của ông gọi là Capraesque. Những tác phẩm thành công nhất của Capra đều tập trung vào đề tài này, khiến cho không ít các nhà phê bình chỉ trích ông giản dị và lý tưởng thái quá (đỉnh điểm là “It’s a Wonderful Life”), còn những nhà nghiên cứu điện ảnh thì trân trọng hơn các tác phẩm đầu thập niên ’30 của ông như “American Madness”, “Lady for a Day”, “It Happened One Night”, ... vì chúng thuần khiết và sáng tạo hơn về mặt kỹ thuật hay "Arsenic and Old Lace" vì có một nội dung đen tối và độc đáo hơn cả. Nhưng thời gian và thế hệ khán giả về sau lại nhìn những bộ phim kia dưới một con mắt khác, trả chúng về với vị trí xứng đáng của mình. Những “Mr. Deeds Goes to Town”, “You Can’t Take It with You”, “Mr. Smith Goes to Washington”, “Meet John Doe” hay “It’s a Wonderful Life” vừa mang tính giải trí cao, truyền cảm hứng cho người xem, nhưng đồng thời cũng rất giàu giá trị nghệ thuật. Và hơn hết cả, chúng thể hiện tư tưởng cũng như đặc trưng trong phong cách làm phim của Capra. Một nhà làm phim phải tự bỏ tiền túi ra và đến gặp A.P. Giannini (người sáng lập Bank of Italy, ngày nay là Bank of America) để góp kinh phí thực hiện bộ phim hay vung rất nhiều tiền xây dựng một phim trường giả khổng lồ để rồi khi tác phẩm thất bại về mặt doanh thu phải khốn đốn vì hãng phim độc lập của mình (Liberty Films) phá sản phải dồn nhiều tâm huyết cho chúng đến nhường nào? Capra yêu những chiếc chuông nhà thờ (biểu tượng của Liberty Films là chiếc Chuông Tự do), những bài hát dân ca hệt như Ozu yêu những chiếc giá phơi quần áo, những ống khói, tàu hỏa, hay Hitchcock yêu những vụ án mạng, những âm mưu giết người. Những Mandrake Falls, Terry Canyon, Bedford Falls có khác gì những Lubitschland (tạm dịch: xứ Lubitsch) của Ernst Lubitsch, nơi những lý tưởng của ông cư ngụ? Ranh giới giữa giải trí và nghệ thuật, giống như ranh giới giữa tư tưởng cá nhân với lý tưởng sáo rỗng, trong các tác phẩm của Capra vô cùng mong manh. Phim của ông đơn giản khi ta nhìn nhận đơn giản, phức tạp khi ta suy xét phức tạp, và sâu sắc khi ta nghĩ ngợi sâu sắc. Nó là tấm gương phản chiếu thái độ và tình cảm của chính người xem nó. Chẳng vậy mà các tác phẩm của Capra ngày nay vẫn thu hút đông đảo người hâm mộ, từ tầng lớp khán giả đại chúng đến giới phê bình nghệ thuật. Martin Scorsese, một đạo diễn xuất chúng với sự nghiệp phê bình không kém cạnh gì sự nghiệp làm phim, dù đi ngược lại giấc mơ Mỹ trong hầu hết những bộ phim mafia của mình, vẫn rất trân trọng và thừa nhận sự ảnh hưởng từ Capra. Hay “Hoàng đế” Akira Kurosawa cũng chọn “It’s a Wonderful Life” trong danh sách 100 phim yêu thích nhất của mình, và học hỏi không ít kỹ thuật dựng phim từ Capra. Không một đạo diễn nào gây ảnh hưởng lên đời sống xã hội Mỹ nhiều như Capra, và dù các tác phẩm của ông không mang tính dự báo tương lai và vận mệnh loài người như Stanley Kubrick, không đi sâu khai thác những góc khuất trong tâm hồn con người như Ingmar Bergman, chúng vẫn chứa đựng những triết lý sâu sắc và bài học quý giá cho đời sống xã hội ngày nay. Về điểm này, Frank Capra có thể được coi là Miguel de Cervantes của điện ảnh (“Don Quixote” cũng là một tác phẩm mang tính giải trí cao, nhà nhà người người đều thích đọc về những chuyện phiêu lưu mạo hiểm của chàng hiệp sĩ giang hồ, nhưng đồng thời cũng chứa đựng những bài học về chính nghĩa, công lý, tự do và những triết lý mãi về sau vẫn tạo nên nguồn cảm hứng lớn lao cho những đại văn hào như Goethe hay Milan Kundera), nhưng là một Cervantes rất khác. “Tự do là thứ quá quý giá, không thể bị chôn vùi trong sách vở, cô Saunders ạ. Mọi người cần đặt nó lên trước ngực mình mỗi ngày trong đời và nói: Tôi được tự do suy nghĩ và phát biểu. Ông cha tôi đã không thể. Nhưng tôi có thể, và con cháu tôi sẽ như vậy.” Ảnh: Sony Pictures Nước Mỹ của Frank Capra là nước Mỹ của những khối đoàn kết dân tộc, nước Mỹ của sức mạnh tổng hợp từ những cá nhân nhỏ lẻ. Cụm từ “nickles and dimes” (những đồng xu lẻ) không ít lần xuất hiện trong phim ông. Ở “Mr. Smith Goes to Washington”, đó là những đóng góp từ các thiếu niên trên khắp nước Mỹ nhằm góp vốn xây dựng hội trại mà theo Smith sẽ góp phần xây dựng nên tương lai của chúng cũng như của đất nước. Niềm tin ấy bừng sáng lên hy vọng trong chúng, và trong số những đứa trẻ gửi thư cho Smith có cả một cậu bé đánh giày ở ga, người hoàn toàn có thể dùng đồng tiền đó mua một bữa ăn cho mình. Khi Smith bị Taylor dồn vào chân tường, tất cả các báo của bang đều đã bị hắn kiểm soát không cho đăng bài về Smith, Saunders và Diz phải nhờ đến sự giúp đỡ của những cậu bé ở quê nhà của anh, những phóng viên nghiệp dư với tuổi đời còn rất trẻ và hầu như không có kinh nghiệm về báo chí. Và những cậu bé đạp xe đạp, kéo xe goòng đi rao báo, thức đêm xử lý từng bản in (một hình ảnh đối nghịch với những chiếc máy in hàng loạt của các tờ báo lớn dưới quyền Taylor đang cho lan truyền những tin sai sự thật về Smith) còn khiến bè lũ Taylor hoảng sợ hơn những đơn vị truyền thông mà chúng có thể bỏ tiền ra mua chuộc. Triết lý của Capra trong bộ phim này được tổng kết lại trong nguyên tắc mà Smith và cả Paine từng tin tưởng: “Love thy neighbor” (Yêu thương đồng loại). Nhưng sang đến “Meet John Doe”, “neighbor” trở về với nghĩa thuở ban sơ của nó: những người hàng xóm nhà bên. Khi những kẻ xa lạ cạnh nhà nhau có thể đoàn kết lại, sẽ có “một sức mạnh vô địch”, “một đợt sóng trào thiện chí không thế lực nào có thể ngăn cản được”; và những người đồng loại rồi cũng sẽ thân cận như những người hàng xóm “tối lửa tắt đèn có nhau”. Trong “It’s a Wonderful Life”, Capra có thể mượn một thiên thần để cứu George Bailey khỏi tự vẫn, nhưng số tiền mà tất cả người dân Bedford Falls gom góp lại mới là thứ thực sự cứu George trong cơn hiểm nghèo. Những bộ phim của Capra đề cao sức mạnh cá nhân, nhưng đó là sức mạnh cá nhân trong sức mạnh tập thể, rằng “không ai thất bại khi có bạn bè”. Những cậu bé đi rao báo. Ảnh: Sony Pictures Trên hết cả, nước Mỹ của Frank Capra là đất nước của những Don Quixote, những kẻ “điên” tưởng mình là hiệp sĩ giang hồ đấu tranh bênh vực công lý. Capra rất hay dành cho các nhân vật chính của mình, những Don Quixote, các tính từ như “insane”, “crazy” (điên), còn các giám mã Sancho Panza của họ thường được ông gọi là “goofy” (ngốc nghếch, ngu muội); khi họ cùng sát cánh bên nhau thì sẽ thành "the dopes" (lũ đần). Khát vọng của Capra cũng chính là "lũ đần sẽ thừa kế trái đất". Nếu Longfellow Deeds, Jefferson Smith hay Long John Willoughby là những Don Quixote, “tinh hoa của ngành hiệp sĩ giang hồ” với “cánh tay dũng mãnh”, thì ta có thể dễ dàng chỉ ra những giám mã dũng cảm đi theo hầu hạ họ, đó là những Babe Bennett, Ann Mitchell và Clarissa Saunders. Smith đã được Saunders ưu ái gọi đúng bằng cái tên Don Quixote và Paine cảnh cáo đang “đánh nhau với cối xay gió”; còn “John Doe” dường như cũng chỉ là một cách gọi khác của chàng hiệp sĩ ngốc nghếch, và với bộ phim này, phải chăng Capra muốn trực tiếp biến nước Mỹ thành chốn thiên đường ông hằng mong ước? (tất nhiên là chỉ trên phim ảnh). Longfellow Deeds bị bọn luật sư của chú mình cáo buộc có vấn đề về thần kinh, còn Jeff Smith thì thốt lên: “Hoặc tôi quá đúng, hoặc là tôi điên” (“Either I’m dead right or I’m crazy”). Chủ điên thì tớ cũng khùng, các giám mã nhanh chóng tin vào những hoài bão, lý tưởng của các chàng hiệp sĩ và theo họ đi tìm những chuyện phiêu lưu mạo hiểm. Trong tiểu thuyết của Cervantes, người đời nhìn vào cặp đôi này với những thái độ khác nhau, kẻ thì khinh bỉ, người thì thân mật tiếp đón theo đúng những nghi thức của giới hiệp sĩ. Người xem Capra cũng vậy, có người phải lấy Capra-corn ra để tự thuyết phục mình tạm thời tin vào những điều đang diễn ra trên phim, lại có người được những nhân vật đó truyền cảm hứng cho cuộc sống ảm đạm xung quanh. Dù thế nào đi nữa, ta cũng thấy ở Frank Capra những phẩm chất của một nghệ sĩ lớn, một đạo diễn có một không hai trong lịch sử. Tuy nhiên, Don Quixote của Capra rất khác so với Don Quixote của Cervantes. Chàng quý tộc tài ba xứ Mancha trong tiểu thuyết của Cervantes đến cuối truyện nhận ra sự điên rồ của bản thân, lâm bệnh và chết vì điều mình không tin tưởng; còn Longfellow Deeds, Jefferson Smith, Long John Willoughby, dù ngờ vực về sự điên rồ của bản thân, nhưng sau khi bị thuyết phục bởi các Sancho Panza, đã đứng dậy chiến đấu cho niềm tin của mình. “Vừa cầu cứu nàng Dulcinea xin nàng hãy giúp cho trong cơn nguy biến này”, chàng “vừa lấy khiên che kín thân, thúc con Rocinante phi thẳng tới chiếc cối xay gần nhất”.
  2. Mở đầu bài viết tưởng nhớ nữ minh tinh hồng nhan bạc mệnh Margaret Sullavan nhân 100 năm ngày sinh của bà trên The New Republic, nhà phê bình điện ảnh David Thompson đã viết: Thỉnh thoảng, bạn gặp phải những người chưa từng xem “The Shop Around the Corner”. Những người như vậy cũng không có gì khác thường. Họ nói tiếng Anh, họ ăn vận, họ chải chuốt. Họ có thể đang dắt chó đi dạo hoặc đang tìm một ly vang nho đen trong một bữa tiệc, và họ nói: “Anh bảo phim nào cơ?” Họ thản nhiên trước việc không biết đến bộ phim, nhất là khi bạn cho họ biết nó đã ra đời được 71 năm và là phim đen trắng. Cũng có những người cho rằng những thứ như vậy vượt quá tầm hiểu biết hay mức lương công việc của họ, như nạn đói ở Đông Phi hay sự thoát khí mê-tan từ băng vĩnh cửu ở Siberia. Không sao cả, ổn thôi, vì chưa từng xem “The Shop Around the Corner” còn dễ cứu chữa hơn những vấn đề nêu trên. Và ông kết thúc bài viết bằng câu: Có những người lại hỏi: “Có phải Nora Ephron từng làm lại phim đấy, với... Meg Ryan không?” Tôi bảo họ: “Không.” Bộ phim với sự tham gia của Meg Ryan mà Thompson nhắc đến là “You’ve Got Mail”, một phiên bản điện ảnh khác cũng dựa trên vở kịch “Parfumerie” của nhà soạn kịch người Hungary Miklós László. Bản thân bộ phim không phải là một tác phẩm tồi, nhưng khi đặt trong sự so sánh, đối chiếu với kiệt tác của Ernst Lubitsch, tất cả những đánh giá tiêu cực đã đến với nó như một hệ quả tất yếu. Cũng như việc không biết đến “The Shop Around the Corner”, kể cả đối với những người yêu điện ảnh, không phải là điều quá nghiêm trọng, nhưng bởi bộ phim nằm trong danh sách 10 phim yêu thích nhất của Thompson, nó trở thành một vấn đề cần được “cứu chữa”, đặc biệt đối với người Mỹ và những nước nói tiếng Anh. Tuy nhiên, những quan điểm và đánh giá của Thompson không phải là quá chủ quan hay hồ đồ. Nhiều nhà phê bình, phân tích điện ảnh khác cũng từng đặt “The Shop Around the Corner” ở một vị thế rất cao trong lịch sử phát triển của môn nghệ thuật thứ bảy, như một chuẩn mực về nghệ thuật làm phim và diễn xuất với những góc quay, những biểu cảm gương mặt và những đoạn đối thoại đã trở thành kinh điển. Áp phích phim. Ảnh: MGM “Cửa hàng bên ngã rẽ” Phim lấy bối cảnh ở Budapest, Hungary, tại một cửa hàng quà tặng nằm gần ngã rẽ giữa hai con phố đông đúc người qua lại, Matuschek & Co. (tạm dịch: Công ty Matuschek), trong không khí Giáng sinh đang “đến rất gần” (“just around the corner” – một cách đặt tên phim khá thú vị của Lubitsch). Mùa lễ hội cũng là thời điểm mọi người hối hả mua sắm, các cửa hiệu tấp nập người ra người vào. Cô gái trẻ Klara Novak (Margaret Sullavan) đang tuyệt vọng kiếm tìm một công việc đã bấu víu vào hy vọng đó để đến Matuschek & Co. xin ứng tuyển vào vị trí bán hàng. Tại đây, cô gặp Alfred Kralik (James Stewart), quản lý cửa hàng, và nhận được một lời từ chối lịch sự, nhưng vì gây được ấn tượng tốt với Giám đốc cửa hàng, ngài Matuschek, Klara được nhận vào làm nhân viên chính thức ở đây. Từ đó, giữa cô và Kralik nảy sinh những mâu thuẫn, bất đồng, cãi vã, và hai người trở thành kẻ thù không đội trời chung với nhau, trong cả công việc lẫn đời sống. Có một điều mà cả hai đều không ngờ tới đó là họ từ lâu đã là “tri kỷ” (dear friend) qua thư, và đang dần xây đắp một mối quan hệ nghiêm túc dựa trên những tâm sự và cảm xúc hai người dành cho nhau qua những bức thư đều đặn được trao đổi. Họ có đến được với nhau không? Có lẽ đó không phải là dấu hỏi chấm lớn của bộ phim, mà là cách họ đến với nhau, cách họ chấp nhận tình cảm từ đôi bên, và cả cách mà từng người một thoát ra khỏi những lá thư để thật sự rung động trước tình yêu bằng xương bằng thịt của mình. Margaret Sullavan và Jimmy Stewart. Ảnh: MGM Chất hài hước kiểu Lubitsch Đó có thể là một cách gọi khá tùy tiện, nhưng “The Shop Around the Corner” hay những bộ phim gắn liền với tên tuổi của Ernst Lubitsch đều mang nét hài hước rất riêng cuốn hút người xem, dù là giới chuyên gia hay tầng lớp khán giả đại chúng. Nói đến phim của Lubitsch, trước khi đao to búa lớn về cách dựng phim, những cú bấm máy hay ý nghĩa sâu xa ẩn trong từng đoạn phim, trước hết có lẽ người ta sẽ nói đến yếu tố giải trí, mà tiêu biểu đó là tiếng cười. Tiếng cười bật ra một cách rất tự nhiên, không gượng ép, nhẹ nhàng mà sảng khoái, âm thầm mà sâu cay, xuất phát từ những câu nói, những hành động vô tình hoặc cố ý của các nhân vật, để từ đó tính cách của từng người dần được khắc họa, định hình. Ngoài hai nhân vật chính Alfred Kralik và Klara Novak với những màn đấu khẩu không có điểm dừng, từ những chuyện nhỏ nhặt như gói kiện hàng đến những vấn đề lớn lao như văn chương hay tâm hồn con người, mà qua đó ta thấy được nét thông minh, cá tính, bốc đồng, mạnh mẽ của cả hai; thì những nhân vật phụ như ông bạn thân của Kralik, Pirovitch (Felix Bressart) luôn rụt rè lẩn tránh mỗi khi ngài Matuschek hỏi xin ý kiến vì sợ làm phật lòng ông chủ; cậu thanh niên chặy việc vặt Pepi Katona (William Tracy) lém lỉnh, khôn lỏi, lúc nào cũng nhanh nhảu chạy ra mở cửa xe cho ông chủ và nghĩ ra đủ cách để trốn sự sai bảo của vợ ông; tay đồng nghiệp dẻo miệng Ferencz Vadas (Joseph Schildkraut) thích trưng diện không khỏi khiến những người xung quanh thắc mắc tại sao gã lại có được nhiều tiền như vậy với công việc hiện tại; hay ngài Giám đốc Hugo Matuschek (Frank Morgan) đôi khi hách dịch, khó tính, khó hiểu nhưng trong thâm tâm vẫn hết lòng yêu thương nhân viên cũng như cửa hàng có thể ví như ngôi nhà thứ hai của ông... cũng đều dần dần bộc lộ bản chất, con người mình qua từng tình tiết phim, từng cái thắt nút, mở nút. Người xem có thể không ngạc nhiên nhưng sẽ không thể thấy nhàm chán, có thể không cười thành tiếng, thành tràng nhưng vẫn sẽ nhoẻn miệng thán phục trước sự đan cài, lồng ghép khéo léo của đạo diễn. Bộ phim đem lại cho ta đủ mọi cảm xúc mà vẫn giữ được sự cân bằng cần thiết để dẫn dắt ta đi đến hồi kết một cách trọn vẹn nhất. Đó có thể không phải là chất hài hước chỉ riêng Lubitsch mới có, nhưng chắc chắn không ai có thể làm tốt bằng ông. Một tình tiết hài hước trong phim. Ảnh: MGM Nghê thuật làm phim bậc thầy và diễn xuất tài tình đã trở thành mẫu mực Ernst Lubitsch là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ điện ảnh Đức đầu tiên, cùng với Fritz Lang, Billy Wilder và nhiều đạo diễn tên tuổi khác. Sang Mỹ năm 1922 để theo đuổi Hollywood, sự nghiệp của ông trải dài trên cả thời kỳ phim câm và phim tiếng với những di sản vô giá cho nền điện ảnh xứ cờ hoa như “Ninotchka”, “To Be or Not to Be”, và đặc biệt là “The Shop Around the Corner”, bộ phim được ông đánh giá là tác phẩm xuất sắc nhất mình từng làm ra trong sự nghiệp. Không có nhiều phim, nếu không muốn nói là chỉ có “Citizen Kane”, đạt được sự hoàn hảo như của “The Shop Around the Corner”. Không một tình tiết thừa, không một lời thoại, hành động, khoảnh khắc sai lệch quỹ đạo, không một cú lia máy làm xao lãng người xem khỏi những gì đang diễn ra trên màn ảnh. Mọi thứ được đặt vào đúng vị trí của nó và vận hành một cách êm ru, thoạt khiến ta không còn cảm giác mình đang xem một bộ phim nữa, mà thay vào đó là những con người đang nói chuyện và tương tác với nhau, điều mà chỉ có bàn tay chỉ đạo tài tình của Ernst Lubitsch mới có thể tạo nên. Dàn diễn viên phụ xuất sắc của phim. Ảnh: MGM Có thể có nhiều ý kiến trái chiều, nhưng Margaret Sullavan tuyệt nhiên không phải là nữ diễn viên quyến rũ nhất thập niên 1940. Vị trí đó có lẽ phù hợp hơn với những Ingrid Bergman hay Greta Garbo (người từng hợp tác với Lubitsch trong “Ninotchka” trước đó không lâu) ... Nhưng “vẻ thông minh và mong manh đối lập, đôi mắt đầy khao khát và giọng nói khàn mà êm ái” như lời nhận xét của David Thompson khiến bà trở thành mảnh ghép hoàn hảo cho vai nữ chính của phim. Một diễn viên quyến rũ sẽ không thể truyền tải được thứ tình yêu nảy sinh từ trái tim và cảm xúc giữa hai nhân vật chính, như họ luôn một mực khẳng định ngoại hình không phải thứ họ quan tâm ở nhau. Một diễn viên quyến rũ sẽ không thể đem lại cho nhân vật Klara cái cảm giác luôn đứng trên bờ vực đổ vỡ, mà chỉ một thay đổi nhỏ trong cảm xúc thôi cũng đủ xô ngã. Lubitsch hiểu rõ những gì mình cần có, và ông bước những bước đi thật chính xác để giành được chúng, Margaret Sullavan là một trong số đó. Nữ minh tinh yểu mệnh từng trải qua bốn cuộc hôn nhân mà không tìm được hạnh phúc để rồi kết thúc cuộc đời vào ngày đầu tiên của năm mới 1960 ở tuổi 49 với nguyên nhân không được xác định rõ ràng ấy được ông nhắm đến duy nhất cho bộ phim mà ông biết sẽ trở thành kiệt tác lớn nhất cuộc đời làm phim của mình, vì ông đã nhìn thấy được sự mong manh kia trong vẻ ngoài dễ thương, xinh xắn của bà. Cùng với Jimmy Stewart, Margaret Sullavan đã tạo nên một chuẩn mực mới về diễn xuất, nơi ranh giới giữa diễn và thật gần như được xóa nhòa. Nhắc đến Jimmy Stewart, người ta hẳn sẽ nghĩ ngay đến anh Thượng nghị sĩ ngây ngô, thật thà Jefferson Smith với màn diễn thuyết liên tục gần một ngày trước Quốc hội trong “Mr. Smith Goes to Washington” hay con người cao cả, đầy lòng vị tha George Bailey trong tác phẩm kinh điển mang tinh thần Giáng sinh và Năm mới bất diệt “It's a Wonderful Life”. “The Shop Around the Corner” rõ ràng không phải là một cột mốc quá lớn trong sự nghiệp lỗi lạc của ông, nhưng nếu thiếu đi Jimmy Stewart, vai diễn của Margaret Sullavan chắc chắn sẽ không đạt đến đỉnh cao khó ai có thể vươn tới kia. Vẻ mặt háo hức, vui sướng, hồn nhiên của hai người, đặc biệt là Klara, khi cầm trên tay bức thư từ người kia; sự hậm hực họ dành cho nhau tại nơi làm việc, lúc cả hai đã bước ra khỏi những dòng thư và câu chữ lãng mạn, bay bổng; hay những lời nói bốp chát, châm chọc, an ủi, âu yếm của hai bên; những thứ đó đến từ Kralik và Klara hay chính Jimmy Stewart và Margaret Sullavan? Thật khó để phân biệt được nếu ta chỉ tình cờ ngồi trước màn ảnh và không hề hay biết đây chỉ là một bộ phim. Ernst Lubitsch cùng Jimmy Stewart và Margaret Sullavan trên trường quay. Ảnh: MGM Cuộc đối thoại trong quán cà phê, nơi lẽ ra đã là địa điểm cho một cuộc hẹn hò lãng mạn, được Thompson đánh giá là “cảnh gặp gỡ xuất sắc nhất trong lịch sử điện ảnh Mỹ”. Nhận xét này không hề cường điệu, bởi đoạn phim dài gần 9 phút này xứng đáng được đưa vào sách giáo khoa giảng dạy kỹ thuật dựng phim. Trong cảnh phim khi Kralik đến quán cà phê cùng Pirovitch, đứng ngoài cửa sổ nhờ ông xem hộ người phụ nữ mình đang thư từ, Lubitsch chỉ sử dụng duy nhất những cảnh quay hai người (two-shot) và một lần cắt cảnh. Điều này có phần khác với phong cách nối tiếp không gian – thời gian (Continuity Editing) mà ông là một đại diện tiêu biểu ở thời kỳ phim câm. Đầu tiên, máy quay dõi theo hai nhân vật bước lại gần cửa sổ. Sau đó là một cảnh quay rất dài chỉ có hai người đứng nói chuyện bên ngoài, để thuật lại những gì diễn ra bên trong quán. Một đạo diễn bình thường hẳn sẽ dùng những cảnh quay dõi theo tầm nhìn của Pirovitch (point-of-view shot), theo sau đó là những cảnh quay phản ứng của ông, ngay như Nora Ephron trong “You’ve Got Mail” đã làm với Dave Chappelle. Lubitsch thì chỉ tập trung vào những biểu cảm và động tác cơ thể của Kralik đáp lại lời tường thuật của Pirovitch, đem lại cho người xem cảm giác tò mò, hồi hộp trong anh sau từng câu nói, dù đã biết trước người ngồi trong quán là Klara. Tuy nhiên, ông cũng không quay cận cảnh Kralik mà chỉ để máy quay chuyển động rất nhẹ sang phải nhằm ghi lại những hành động của anh, giữ cho tương tác giữa Kralik và Pirovitch được liền mạch. Cách quay phim ấy đòi hỏi và cũng cho phép cả Felix Bressart và Jimmy Stewart sử dụng ngôn ngữ cơ thể vô cùng linh hoạt mà không quá cường điệu: giãn vai, gật đầu, rướn người..., điều Tom Hanks và Dave Chappelle đã không làm được trong phiên bản năm 1998. Sau khi Kralik và Pirovitch chia tay, Lubitsch chuyển cảnh vào trong quán cà phê, nơi Klara nói chuyện với người bồi bàn. Tiếp tục là một cảnh quay liên tục, với chỉ hai lần cắt cảnh để quay cuốn tiểu thuyết Anna Karenina với bông cẩm chướng trên bàn hai người dùng làm dấu hiệu nhận ra nhau. Lúc này, Kralik quyết định trở lại quán, nhưng thay vì dựng xen kẽ (crosscutting) cảnh Kralik bên ngoài thì Lubitsch lại chỉ dịch máy quay lên để thu lại hình ảnh của anh qua ô cửa kính, ít nhiều đem đến sự dí dỏm cho cảnh phim. Khi Kralik và Klara gặp nhau trong quán, ông cắt cảnh nhiều hơn, dù vậy vẫn thường giữ cả hai trong một khung hình kể cả là quay cận cảnh. Những cú quay cận cảnh nhất là lúc cuộc đối thoại giữa hai người lên đến cao trào với những lời nói móc, chê bai, giễu nhại, thậm chí là khinh thường nhau. Sự khó chịu của cả hai như ẩn giấu những thất vọng và lo âu từ sâu trong mỗi người. Với Kralik thì đó là nỗi buồn triền miên: anh bị sa thải, khi đến cuộc hẹn với người phụ nữ mà anh đã đặt bao hy vọng trong suốt nhiều tuần liền thì phát hiện ra đó chính là người đồng nghiệp bấy lâu nay vẫn luôn bất đồng với mình. Với Klara thì đó là sự nóng lòng chờ đợi được gặp người đàn ông với những lý tưởng, quan điểm đã cứu rỗi cô khỏi cuộc sống tầm thường, vô vị, nhưng người cô được diện kiến lại chỉ là kẻ đã cướp mất cá tính và nhiệt huyết trong cô. Nỗ lực làm hòa của Kralik thất bại, cảnh phim khép lại trong đau đớn và nuối tiếc, tất cả diễn ra trên nền nhạc Ochi Tchornya, một trong những thứ đã khơi mào cho toàn bộ câu chuyện, và bản nhạc chủ đề của bộ phim. Cảnh phim tại quán cà phê. Ảnh: MGM Một cảnh quay xuất sắc khác là cảnh phim Klara đến bưu điện tìm kiếm bức thư từ người tình ẩn danh của mình. Máy quay từ đằng sau ghi lại bàn tay đeo găng của cô lục tìm hòm thư trống rỗng, và qua cánh cửa đang mở, khuôn mặt rạng ngời của Margaret Sullavan trong chốc lát bỗng trở nên ốm yếu, già nua, đau khổ vì tuyệt vọng. David Thompson gọi đó là “một trong những khoảnh khắc mong manh nhất của điện ảnh”. Cảnh quay Klara lục tìm hòm thư. Ảnh: MGM Ngoài hai diễn viên chính ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng người xem, Frank Morgan trong vai ngài Giám đốc Matuschek là một phát hiện thú vị của Lubitsch. Danh hài được biết đến nhiều nhất qua nhân vật Phù thủy trong “The Wizard of Oz” đã bộc lộ năng lực tiềm tàng của mình với một vai diễn mang chiều sâu và sức nặng tâm lý khác hẳn những bộ phim trước đó ông từng tham gia. Hugo Matuschek tuy là một ông chủ tốt nhưng luôn lạnh lùng giữ khoảng cách với các nhân viên của mình, khiến mọi người không thể hiểu được ông mỗi khi buồn bực hay cáu giận. Trong đêm Giáng sinh, sau khi đã mất đi người vợ yêu dấu từng chung sống suốt hai mươi năm trời và tự sát không thành trước sự can thiệp của Pepi, ông lại một lần nữa đơn độc giữa lòng Budapest kiều diễm khi từng nhân viên một từ chối lời mời của ông đến một nhà hàng sang trọng ăn mừng lễ hội để về đoàn tụ bên gia đình hoặc dành thời gian cho những người thương yêu. Duy nhất chỉ còn lại Rudy (Charles Smith), cậu thiếu niên chạy việc vặt thay Pepi, cùng ông bên đường phố trắng xóa tuyết rơi. Ông đành gạt sang một bên lòng kiêu hãnh vốn có để mời cậu đi ăn tối. Trong lúc nói về những món ăn hảo hạng mà hai người chuẩn bị thưởng thức, khuôn mặt Hugo Matuschek bừng sáng niềm hạnh phúc vì lần đầu tiên sau nhiều năm trời ông đã tìm được tri âm tri kỷ, vì ít nhất cũng đã có người đáp lại khi ông mở lòng, và càng đặc biệt hơn nữa khi đó lại là một tâm hồn đồng điệu sẽ cùng ông sẻ chia niềm vui Giáng sinh, ngày lễ của những hội ngộ và đoàn viên. Hugo Matuschek và Rudy trong đêm Giáng sinh. Ảnh: MGM Câu chuyện mang ý nghĩa xã hội không của riêng thời đại nào “The Shop Around the Corner” là một phim hài, và xuyên suốt bộ phim ta gần như không thấy một tình tiết bi lụy, thống thiết nào, nhưng không khí nó đem lại cho người xem thật chẳng mấy dễ chịu. Tất cả các nhân viên của cửa hàng đều phải vật lộn với cuộc sống hằng ngày, với những chi tiêu, sắm sửa, chi phí thuốc thang, ... và hy vọng duy nhất của họ đó là công việc cùng đồng lương eo hẹp mà ai nấy đều phải khúm núm trước ông chủ hòng giữ được. Ngay trong đoạn đối thoại đầu tiên giữa Pirovitch và Pepi, Lubitsch đã khắc họa thứ áp lực khủng khiếp đè nặng lên mỗi nhân vật ấy, tuy chỉ qua một câu nói bông đùa. Khi các nhân viên đã tụ tập đủ trước cửa tiệm, vấn đề dần trở nên nghiêm túc, tiền lương rõ ràng là điều sống còn với mỗi người, dù là người trung niên đã có gia đình và con cái, hay những người trẻ tuổi còn độc thân. Họ ngước nhìn cuộc sống của ông chủ với sự thèm khát. Họ cố gắng làm hài lòng ông bằng mọi cách, hay ít nhất cũng không gây ấn tượng xấu với ông, bởi vì họ biết mất đi công việc giờ này là mất đi tất cả, khi ngoài kia “hàng triệu người đang thất nghiệp”, và Giáng sinh đã gần kề. Khung cảnh lễ hội được Lubitsch khai thác triệt để nhằm hiện thực hóa nỗi trăn trở của tầng lớp lao động trong xã hội. “Chưa ai từng quan tâm đến cách các nhân vật kiếm sống – nếu bộ phim gây cười. Giờ thì họ đã quan tâm. Họ muốn câu chuyện của họ gắn liền với đời sống. Con người ngày nay ai cũng phải kiếm sống.”, ông tâm sự. Các nhân viên ngước nhìn cuộc sống của ông chủ với sự thèm khát. Ảnh: MGM Cái hiện thực không mấy đẹp đẽ ấy đôi khi khiến người ta muốn trốn tránh và tìm kiếm niềm an ủi, niềm vui trong những vấn đề văn hóa, nghệ thuật, nơi chỉ có những ước lệ, ẩn dụ, nơi vẻ đẹp là trường tồn và tâm hồn con người là cả một đại dương bao la những lý tưởng, quan điểm xa rời hoàn toàn sự tầm thường của miếng cơm manh áo, của đồng tiền bát gạo. Hai nhân vật chính tìm đến nhau cũng chính từ sự an ủi ấy, qua những bức thư. Nghịch lý ở đây đó là cả hai đều tự huyễn hoặc bản thân tin vào một tình yêu đích thực đến từ một người mà mình chưa từng gặp mặt; dành hết tâm huyết và tình cảm cho những dòng thư, mặc dù đó là con đường xa xôi nhất hai người có thể đến với nhau, để rồi khi đối diện nhau ở nơi làm việc, cả hai lại không thể tìm được tiếng nói chung, chỉ vì “không đi sâu vào tìm hiểu một khía cạnh của vấn đề để khám phá những sự thật bên trong”. Sự lãng mạn của những bức thư như chứa đựng một cảm giác cô đơn, tuyệt vọng âm ỉ từ cả Kralik và Klara. Lubitsch đặt tình yêu lý tưởng trong sự tương phản với thực tại nghiệt ngã, đặt nghệ thuật trong sự đối lập với áp lực đồng tiền để khẳng định: thực tế không tươi đẹp, nhưng nó là thật, là hữu hình, và con người chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc khi biết chấp nhận nó, và sống hết mình với nó; như Kralik trong phần kết phim trước khi thừa nhận mình chính là “tri kỷ” của Klara đã dập tắt hoàn toàn những mộng tưởng và kỳ vọng trong cô về một người tình qua thư hoàn hảo, tất nhiên, vẫn bằng những câu nói châm biếm, mỉa mai hết sức thú vị, hài hước. Kralik và Klara trong cảnh phim cuối. Ảnh: MGM Hơn ba phần tư thế kỷ đã qua đi, dẫu hình ảnh có thể không còn hào nhoáng, dẫu nội dung có thể không còn cuốn hút người xem, tư tưởng và giá trị của bộ phim vẫn nguyên vẹn, bởi Budapest những năm 40 của thế kỷ XX được mô phỏng trong trường quay MGM ở California, Mỹ cũng chỉ là một trong rất nhiều Lubitschland (tạm dịch: Xứ Lubitsch) mà nhà viết tiểu sử Scott Eyman đã nhắc đến khi mô tả “Phong cách Lubitsch” (Lubitsch touch), và mỗi chúng ta trong xã hội hiện đại phải chăng cũng có thể tìm thấy đâu đó quanh mình một Kralik và Klara, hay một “cửa hàng bên ngã rẽ”? Được quay vỏn vẹn chỉ trong 28 ngày, sau khi “Ninotchka” hoàn thành và cả Jimmy Stewart lẫn Margaret Sullavan đều đã sẵn sàng, “The Shop Around the Corner” mang tất cả nét tinh tế, quyến rũ, huyền ảo của một bộ phim hài lãng mạn kiệt xuất, với những khung hình đen trắng lung linh mùa lễ hội. Nhưng hơn cả một bộ phim Giáng sinh kinh điển, nó xứng đáng là kiệt tác điện ảnh của mọi thời đại, một tác phẩm cảm động, ấm áp, hài hước nhưng vô cùng sâu lắng, đẹp và thấm đượm tình người.
×
×
  • Create New...