Jump to content

Search the Community

Showing results for tags 'Review'.



More search options

  • Search By Tags

    Type tags separated by commas.
  • Search By Author

Content Type


Forums

  • Khu vực hành chính FreeHD
    • Thông Báo - Annoucements
    • Ý kiến đóng góp - Suggestion
    • Trò Chuyện Linh Tinh - Chit chat Gossip
    • Trash bin
  • Technology Zone - Khu Kỹ Thuật
    • General Guide
    • Hỏi Đáp Chung - Question and Answer
    • Phần Mềm - Software
    • Phụ đề - Thuyết minh
  • Movie News - Tin Tức Phim
    • Thông Tin Điện Ảnh - News
    • Cảm Nhận Phim - Movie Review
  • FreeHD Content
    • Non-HD
    • HDRip
    • miniHD
    • 720p
    • 1080p
    • Complete Blu-ray
    • 4K Content
    • Sport
    • Documentary
    • TV series
    • Anime
    • Request
  • Music Zone
    • Lossy
    • Lossless
    • Music Videos
    • Music Request
  • Members Share - Khu tự do chia sẻ của thành viên
    • DVD - nonHD
    • mini HD
    • 720p - 1080p
    • TV series
    • Full BluRay
    • Music
  • FreeHD Entertainment - Khu giải trí, Thư giãn
  • Trash bin

Find results in...

Find results that contain...


Date Created

  • Start

    End


Last Updated

  • Start

    End


Filter by number of...

Joined

  • Start

    End


Group


AIM


MSN


Website URL


ICQ


Jabber


Location


Interests

Found 359 results

  1. Chém gió chém bão vào hết đây !!! :conair: :conair: :conair: :conair: :conair: :conair: :conair:
  2. Bộ phim đại diện cho điện ảnh Pháp tại Oscar 2016 khiến người xem phải đau đáu về những điều mà người thiếu nữ hiện đại tại một quốc gia đạo Hồi như Thổ Nhĩ Kỳ có thể phải đối mặt. Một trong những tấm poster phim đẹp nhất năm 2015 hẳn thuộc vềMustang, tác phẩm đầu tay của nữ đạo diễn Deniz Gamze Ergüven người Pháp gốc Thổ Nhĩ Kỳ. Đó là bức hình chụp năm em gái đang khoác vai, chụm đầu, với đằng sau là bầu trời đầy sao. Tấm áp phích vừa lưu giữ được nét thanh xuân trong sáng của nhóm nhân vật, vừa khiến người xem cảm thấy đượm buồn vì chẳng thể tìm thấy nổi nụ cười nào trên năm đôi môi tươi hồng. Mustang gây tò mò cho người xem từ tấm poster đẹp nhưng đượm buồn. Bộ phim xoay quanh năm chị em gái mồ côi, chỉ vì một lần chơi đùa với các bạn trai cùng trang lứa mà rơi vào bi kịch khó lòng có thể tưởng tượng. Ảnh: Ad Vitam Các bé gái ấy là năm chị em mồ côi Sonay (İlayda Akdoğan), Selma (Tuğba Sunguroğlu), Ece (Elit İşcan), Nur (Doğa Zeynep Doğuşlu) và cô em út Lale (Güneş Nezihe Şensoy). Mustang là câu chuyện buồn của năm em, đồng thời là bi kịch của những người phụ nữ hiện đại bị kìm kẹp bởi truyền thống gia trưởng và thủ cựu. Bi kịch xuất phát từ trò nô đùa trẻ con Mustang mở đầu như một bài hát vui bằng cảnh nô đùa trên bãi biển của năm bé gái với các bạn trai cùng trang lứa sau ngày cuối cùng năm học. Mới chớm bước qua tuổi dậy thì, năm chị em thản nhiên ôm vai, bá cổ, thậm chí là cưỡi lên lưng các cậu bạn học, mà không ngờ rằng những trò chơi tuổi mới lớn ấy đã lọt vào tầm ngắm của nhiều đôi mắt thủ cựu trong làng. Tại ngôi làng nhỏ cách chốn đô hội Istanbul của Thổ Nhĩ Kỳ cả ngàn cây số ấy, cảnh chơi đùa của năm cô bé lập tức bị hàng loạt lời đồn thổi biến thành bằng chứng ô nhục về mầm mống “lăng loàn” của các chị em. Mồ côi cả cha lẫn mẹ từ tấm bé, năm em sống trong sự chăm sóc của người bà (Nihal Koldaş) và sự bảo trợ từ ông bác nghiêm khắc Erol (Ayberk Pekcan). Để “bảo vệ” các em khỏi “cám dỗ”, và cũng để giữ thể diện cho cả gia đình, Erol lập tức cho các em đi kiểm tra trinh tiết, trước khi quyết định nhốt tất cả ở nhà để giáo dục năm chị em trở thành những người phụ nữ đoan trang, phù hợp với bổn phận làm vợ, làm mẹ sau này. Sự thủ cựu và những hủ tục khiến năm chị em gái trở thành "tù nhân" bên trong chính căn nhà của mình, cũng như các cuộc hôn nhân sắp đặt diễn ra sau đó. Ảnh: Ad Vitam Năm chị em bỗng trở thành tù nhân bên trong chính căn nhà của bản thân chỉ bởi khao khát được sống tự do, tận hưởng cuộc sống hiện đại với quần áo đẹp, với bạn bè cùng trang lứa, hay đơn giản chỉ bởi mong muốn được xem một trận bóng đá và đi tắm biển. Thế chỗ cho những ước vọng giản dị của lứa tuổi mới lớn ấy là các bài học nội trợ, các bài giảng đạo đức tẻ nhạt trên truyền hình, và kinh khủng hơn cả, là các cuộc hôn nhân sắp đặt. Ngoại trừ cô út Lale còn quá nhỏ tuổi, Sonay, Selma, Ece và Nur lần lượt bị đẩy vào những đám cưới gượng ép. Các em cứ thế phải chia lìa người thân để trở thành con dâu trong những gia đình xa lạ, mang nặng hủ tục từ hàng trăm năm trước về trinh tiết và danh dự. Người ở lại cũng chẳng được yên lành khi luôn phải chịu cảnh chèn ép đến từ ông bác gia trưởng và hà khắc, người coi trọng việc giữ thể diện hơn cả hạnh phúc của bà mẹ già và nhóm cháu gái, nhưng đồng thời lại che giấu những thú tính khó lòng tưởng tượng bên trong bản thân. Cam chịu với gông cùm của hủ tục và truyền thống gia trưởng chốn làng quê, hay vượt qua tất cả để tìm đến tự do nơi đô thị, liệu đâu sẽ là lựa chọn của năm chị em gái cho cuộc sống còn rất dài phía trước? Lời tâm huyết dành cho những người phụ nữ nơi quê hương Tuy sinh ra tại Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng nữ đạo diễn Deniz Gamze Ergüven lại học tập và khởi nghiệp ở Pháp với Mustang. Bộ phim mang rất nhiều dấu ấn và tâm trạng cá nhân cô. Theo Ergüven, tác phẩm đầu tay của cô chính là lời tâm huyết dành cho quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội hiện đại Thổ Nhĩ Kỳ, trước sự đe dọa trở lại của những giáo lý và truyền thống đạo Hồi hà khắc, đặc biệt ở các vùng thôn quê xa xôi, nơi kiến trúc nổi bật nhất giữa làng xóm lụp xụp vẫn là những ngọn tháp nhọn của nhà thờ Hồi giáo. Thông qua Mustang, Deniz Gamze Ergüven muốn nói lên thực trạng của phụ nữ tại các vùng quê xa xôi trên quê hương Thổ Nhĩ Kỳ. Họ rất dễ rơi vào bi kịch chỉ bởi những giáo lý và truyền thống đạo Hồi hà khắc. Ảnh: Ad Vitam Ở Mustang, người xem có thể dễ dàng cảm nhận thấy xung đột giữa tinh thần tự do mang tính thời đại với chủ nghĩa gia trưởng bảo thủ, mang đậm màu sắc tôn giáo, thông qua hình ảnh của năm cô bé. Các em rất đáng yêu với cách ăn mặc và lối cư xử tự nhiên, tân thời. Nhưng tất cả lại bị giam cầm giữa những song sắt được dựng nên bởi ông bác hà khắc và người bà sống trọn đời trong cảnh cam chịu. Một bộ phim chú trọng vào những xung đột nội tâm như Mustang rất cần dàn diễn viên hợp vai và ăn ý. Đó là điều không dễ đạt được khi tác phẩm cần nhiều gương mặt nhí và đất diễn phải được biên kịch phân chia hợp lý. May mắn cho Ergüven và bộ phim là dàn diễn viên còn rất trẻ sắm vai năm chị em, giống như trên tấm poster, đã vai kề vai để thực sự trở thành chị em của nhau trên màn ảnh. Tất cả cùng nhau thể hiện thành công tinh thần và khát vọng tự do mà Mustang muốn truyền tải tới cho khán giả. Ergüven có tác phẩm đầu tay thành công ngoài mong đợi nhờ phần diễn xuất hồn nhiên, cuốn hút của năm diễn viên nhí xinh đẹp. Ảnh: Ad Vitam Diễn xuất hồn nhiên nhưng rất giàu tình cảm, cùng nét trong trẻo tinh khôi, của năm chị em gái có lẽ là điểm nhấn đẹp nhất ở Mustang. Không cần đến triết lý sâu sắc, không cần những câu thoại văn hoa phức tạp, chỉ cần một khung hình đẹp đẽ mà bi ai, khi các em nằm gối đầu lên nhau dưới ánh nắng vàng rực rỡ giữa song sắt kìm hãm, là quá đủ để bộ phim đưa ra được thông điệp về khát vọng tự do. Phần bối cảnh cùng hình ảnh trong phim, với rất nhiều nội cảnh và ánh sáng tự nhiên, là yếu tố giúp khán giả có được cảm giác nhẹ nhõm nhất định ban đầu. Tuy nhiên, khi lớp vải nhung nhẹ nhàng đó được lật lên, tất cả có thể thấy rằng ẩn giấu bên trong Mustang là bi kịch tột cùng của con người khi tự do bị chà đạp, là bi kịch của những tâm hồn trinh nguyên khi rơi vào tay của những cái đầu mù quáng vì giáo lý, hủ tục và khát vọng thấp hèn của bản thân. Những bi kịch cứ nối tiếp bi kịch trong Mustang chắc chắn sẽ khiến nhiều khán giả sau khi theo dõi bộ phim phải giật mình. Bởi ở đâu đó trên thế giới, kể cả những quốc gia hiện đại như Thổ Nhĩ Kỳ, vẫn còn tồn tại những hủ tục bất công, kìm hãm tự do và khát vọng sống của con người, đặc biệt là phụ nữ. Đó có lẽ chính là lời nhắn nhủ tâm huyết mà nữ đạo diễn Deniz Gamze Ergüven muốn dành cho quê hương. Bởi liệu ai muốn ngồi yên khi thấy khao khát tự do của những em gái với khuôn mặt ngời sáng như năm chị em Sonay, Selma, Ece, Nur, Lale vẫn phải ở sau song sắt của những nhà tù giáo lý và tư tưởng? Tại Oscar 2016, Mustang đại diện cho điện ảnh nước Pháp và lọt vào vòng đề cử cuối cùng của hạng mục Phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc. http://news.zing.vn/Mustang--Bi-kich-tot-cung-tu-giao-ly-va-hu-tuc-post619615.html
  3. Ra mắt khán giả vào những năm đầu thập niên 1990, sau gần 25 năm, “Home Alone” vẫn là bộ phim được xem lại nhiều nhất mỗi dịp Giáng sinh về. Với kinh phí sản xuất 15 triệu USD, Home Alone từng trở thành một hiện tượng của Hollywood khi soán ngôi tất cả các phòng vé, đồng thời thu lại lợi nhuận (ước tính khoảng 2 triệu USD tại Mỹ) cho nhà sản xuất ngay sau tuần công chiếu đầu tiên. Tiếp sau đó, bộ phim kiên trì bám trụ phòng vé trong 12 tuần liền và trở thành bộ phim hài đạt kỷ lục thế giới về doanh thu khi đó - 533 triệu USD trên toàn cầu. Điều gì đã khiến bộ phim về cậu bé 8 tuổi, bị gia đình bỏ quên, phải xoay xở với hai tên trộm trong kỳ nghỉ Giáng sinh, trở thành cơn sốt không chỉ tại Mỹ mà còn ở rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác trong một thời gian dài? Tại Ba Lan, Home Alone đã trở thành bộ phim truyền thống mùa Noel, được phát chính thức trên kênh truyền hình quốc gia hàng năm. Ở nhiều nơi khác, cứ đến hẹn lại lên, Home Alone vẫn trở thành bộ phim được đón đợi nhất của khán giả trên truyền hình. "Home Alone" là bộ phim mà hàng triệu thế hệ trẻ em trên khắp thế giới yêu mến. Một trong những điểm thú vị dễ thấy của bộ phim là bên cạnh việc khai thác nét văn hóa có tính toàn cầu, Home Alone gây tò mò bằng một tình huống giả định: đứa trẻ 8 tuổi không gia đình trong mùa mà người người, nhà nhà sum vầy, đoàn tụ. Tình huống tưởng như sẽ đặt nhân vật vào hoàn cảnh cô đơn, tuyệt vọng này đã được đạo diễn Chris Columbus xử lý theo phong cách hài hước, nhẹ nhàng. Người xem không cảm thấy Kevin là cậu bé đáng thương, bố mẹ cậu là những người đáng trách. Thay vào đó, mỗi cuộc phiêu lưu của Kevin dù là chuyến đi siêu thị một mình đầu đời hay cuộc chạy trốn hai tên trộm xảo quyệt đều mang đến cho khán giả những tràng cười giòn giã. Home Alone gợi nhắc cho chúng ta về một thời kỳ đầu của công nghệ làm phim Hollywood. Các tình tiết gây hài trong phim chủ yếu đến tự nhiên, hoặc sắp xếp thật chứ không nhờ sự can thiệp của kỹ xảo điện ảnh. Rất nhiều chi tiết thú vị trong phim được đạo diễn tạo dựng ngay tại trường quay, với sự cộng tác hết mình của các diễn viên. Ít ai biết rằng, Daniel Stern đã để một con nhện thật bò trên mặt mình và thu lấy tiếng hét thất thanh cùng gương mặt kinh hoàng thật sự trong cảnh té ngửa ở cầu thang. Hay bức ảnh người bạn gái của Buzz mà Kevin tìm được trong phòng thực sự là một người nam hoá trang thành nữ… Một mình chú nhóc Kevin phải đối đầu với hai tên trộm hung dữ, mưu mô xảo quyệt trong kỳ nghỉ Giáng sinh. Chi tiết chiếc lò ma quái - nỗi ám ảnh của Kevin dưới tầng hầm, nếu như được dựng lại ngày nay, hẳn sẽ rùng rợn hơn nhờ sự hỗ trợ của các hiệu ứng kỹ xảo. Tuy nhiên, vào thời ấy, chỉ với hai người điều khiển một hệ thống chuyển động bởi những sợi dây câu và ánh đèn flash, khán giả đã có một con quái vật biết cựa quậy, thỉnh thoảng phát ra những âm thanh gầm rú rợn người. Cũng trong điều kiện còn nghèo nàn về công nghệ làm phim, đạo diễn Chris Columbus đã phát minh ra những công cụ và những hình thức gây hài thông minh. Diễn viên của ông đã phải trang bị một đôi tất cao su, dưới hình dạng một đám bùn đen, dẫm trên một chiếc đinh như thật trong cảnh đột nhập vào ngôi nhà vắng chủ. Người xem cũng đã bất ngờ với những câu thoại, cảnh quay ngắn của bộ phim Angels With Filthy Souls được cắt ghép, đan cài hoàn hảo trong âm mưu đánh lừa hai tên trộm của Kevin. Diễn viên nhí Macaulay Culkin đã có một vai diễn để đời vào năm 10 tuổi trong Home Alone. Bộ phim đã đưa tên tuổi Macaulay đến với thế giới cũng như mở đường cho rất nhiều dự án phim khác của anh. Nét láu lỉnh cùng diễn xuất thông minh, đầy tự tin của cậu bé Kevin ngày ấy đã hoàn toàn thuyết phục người xem. Đến tận khi trưởng thành và góp mặt trong những bộ phim ăn khách khác, Macaulay Culkin vẫn không phủ nhận Kevin là vai diễn thành công nhất trong sự nghiệp của mình. Một điều từng làm khán giả tiếc nuối là sự xuất hiện hụt của “bố già” Robert De Niro với vai một trong hai kẻ trộm của phim. Tuy nhiên, thay vào đó, Daniel Stern đã có một màn trình diễn làm hài lòng khán giả. Chuyện anh chấp nhận quay thật cảnh con nhện khổng lồ bò trên mặt mình, nhằm ghi lấy âm thanh thực sự của sự sợ hãi cũng đã xứng đáng ghi điểm trong lòng khán giả bởi sự hy sinh cho vai diễn. Vẻ ngây thơ, lém lỉnh của Macaulay Culkin khi vào vai Kevin. Sau thành công ngoài mong đợi của Home Alone năm 1990, các nhà sản xuất không bỏ lỡ cơ hội kể tiếp câu chuyện ăn khách về cậu bé lém lỉnh – Kevin. Có rất nhiều phiên bản kéo dài, phiên bản mới của Home Aloneđược ra mắt sau này như Home Alone 2: Lost in New York (1992); Home Alone 3 (1997); Home Alone 4 (2002) và mới đây nhất là Home Alone: The Holiday Heist (2012). Mặc dù đã gần 25 năm kể từ ngày đạo diễn Chris Columbus đưa cậu bé Macaulay Culkin lên màn ảnh, Home Alone vẫn là một trong những bộ phim không thể lãng quên mỗi dịp Noel về. Cùng với cây thông, chuông nhà thờ, nến, gà quay, bánh khúc cây, Home Alone là cái tên hoàn thiện đêm Giáng sinh ấm cúng, an lành bên các gia đình dù là ở bất cứ đâu. Nguồn: Vnexpress.net
  4. Từ một diễn viên chỉ quen đóng vai phụ, Chris Pratt đang có cơ hội vươn lên thành sao hạng A khi được giao vai chính trong bom tấn “Vệ binh dải ngân hà”. Với nhiều người hâm mộ điện ảnh, Chris Pratt có lẽ còn khá xa lạ. Ấn tượng lớn nhất về anh có lẽ là vai người bạn Barry bị Wesley (James McAvoy thủ vai) trong phim Wanted nện cả chiếc bàn phím vào mặt vì thói trăng hoa. Pratt thậm chí còn không nổi tiếng bằng vợ mình là người đẹp tóc vàng Anna Faris. Song những điều đó hoàn toàn có thể thay đổi ngay trong mùa hè này, khi nam diễn viên người Mỹ được chọn vào vai chính trong bom tấnGuardians of the Galaxy của Marvel. Tài tử đang lên của Hollywood - Chris Pratt. Sự khởi đầu ngẫu nhiên Sinh năm 1979, Chris Pratt từng có thời gian làm phục vụ bàn. Nhưng khác với Jennifer Aniston, Sandra Bullock hay Julianne Moore, anh không làm việc để kiếm tiền theo đuổi giấc mơ trở thành diễn viên mà chỉ đơn thuần tìm cách trang trải cuộc sống. Thứ duy nhất liên quan tới điện ảnh trong công việc của anh khi đó là nơi làm việc - nhà hàng Bubba Gump Shrimp tại Hawaii - được lấy cảm hứng từ bộ phim kinh điển Forrest Gump. Cũng chính trong quãng thời gian làm việc tại Bubba Gump Shrimp, vẻ ngoài cao lớn của Pratt gây chú ý cho nữ diễn viên kiêm đạo diễn Rae Dawn Chong. Dawn Chong đã thuyết phục được Pratt từ bỏ công việc chạy bàn và thử sức với phim ngắn kinh dị kinh phí thấp Cursed 3 (2000) do cô đạo diễn với độ dài chỉ... 25 phút. Dẫu vậy, đây cũng là cột mốc quan trọng trong sự nghiệp Chris Pratt. Kể từ đây, anh bắt đầu có hứng thú với diễn xuất. Khi bắt đầu sự nghiệp, dù sở hữu vóc dáng cao lớn (1,88m), Chris Pratt dường như không quá chú tâm vào ngoại hình và thường xuyên xuất hiện với vẻ ngoài mập mạp cùng râu tóc không được cắt tỉa gọn gàng. Vì vậy, anh thường được lựa chọn để đóng các nhân vật có lối sống bừa bãi hay thiếu chín chắn. Kể từ sau Cursed 3, nam diễn viên này thường xuyên xuất hiện trong các loạt phim truyền hình (Everwood và The O.C) hoặc đóng các vai phụ trong những bộ phim kinh phí thấp. Dù đã diễn xuất cạnh các ngôi sao như Angelina Jolie, James McAvoy hay Morgan Freeman trong bộ phim đạt doanh thu 341 triệu USD Wanted (2008), thời lượng xuất hiện của Pratt cũng chỉ vỏn vẹn chục phút. Bước ngoặt 2009 Năm 2009 đánh dấu hai cột mốc quan trọng trong cuộc đời Chris Pratt. Đầu tiên là việc anh kết hôn với Anna Faris, người đẹp tóc vàng của loạt phim hàiScary Movie. Trong nhiều cuộc phỏng vấn, Faris cho biết cô bị hấp dẫn bởi óc hài hước cùng vẻ ngoài có phần mũm mĩm của Pratt. Không chỉ hạnh phúc ở ngoài đời, đôi vợ chồng này còn từng xuất hiện chung trong bộ phim hài – tình cảm What’s Your Number?. Năm 2012, gia đình Pratt chào đón cậu con trai đầu lòng Jack. Chris Pratt hạnh phúc bên vợ là nữ diễn viên Anna Faris. Sự kiện quan trọng thứ hai với Pratt trong năm 2009 là việc anh tham gia loạt phim truyền hình hài Parks and Recreation. Ban đầu, nhân vật tối dạ nhưng đáng yêu Andy Dwyer của Pratt chỉ là một nhân vật phụ trong mùa đầu tiên, nhưng diễn xuất hài có duyên của Pratt đã thay đổi điều đó. Khán giả tỏ ra thích thú với nhân vật Dwyer, khiến Pratt từ một diễn viên khách mời bỗng được các nhà sản xuất đôn lên thành nhân vật chính kể từ mùa thứ hai. Tới nay, loạt phim này đã kéo dài tới mùa thứ sáu và vẫn được đón nhận nồng nhiệt, còn bản thân Pratt là một trong 5 diễn viên đã xuất hiện trong đủ 125 tập phim. Không chỉ thành công với mảng phim truyền hình, Pratt còn bắt đầu tạo dựng được danh tiếng tại Hollywood. Sau khi hụt vai thuyền trưởng James T. Kirk trong bom tấn Star Trek (2009) vào tay tài tử Chris Pine, Chris Pratt bắt đầu gây ấn tượng với bộ phim về đề tài thể thao Moneyball (2011). Trong phim, anh vào vai cầu thủ bóng chày Scott với niềm ám ảnh bị chấm dứt sự nghiệp và phải học thích ứng với một vị trí phòng thủ trên sân. Để vào vai một vận động viên, Chris Pratt đã phải tập luyện chăm chỉ để giảm được 13kg. Kết quả là Moneyball lọt vào danh sách những bộ phim hay nhất năm 2011, trong khi bản thân Pratt cũng học được nhiều kinh nghiệm khi sát cánh cùng những ngôi sao trong phim là Brad Pitt và Philip Seymour Hoffman. Kể từ đó tới nay, Pratt gây ấn tượng khi tham gia vào ba bộ phim được đề cử Oscar “Phim hay nhất” trong ba năm liên tiếp là Moneyball (2011), Zero Dark Thirty (2012) và Her (2013) dù chỉ là những vai phụ. Từ “Zero” tới “Hero” 2014 thực sự là một năm có sự khởi đầu tuyệt vời với Chris Pratt. Hồi tháng 2, bộ phim hoạt hình The Lego Movie mà anh lồng tiếng cho nhân vật chính Emmet thành công rực rỡ tại phòng vé với hơn 400 triệu USD doanh thu. Trong cuộc sống riêng, anh đã có cuộc lột xác ngoạn mục khi giảm cân và tập thể hình để có vóc dáng cơ bắp. Sau khi Pratt đưa lên trang Instagramcá nhân những hình ảnh khoe cơ bắp cuồn cuộn, trang Buzzfeed đã tập hợp các hình ảnh quá khứ và hiện tại của anh để cho thấy Pratt đã thay đổi nhiều ra sao và gọi anh là “một vị thần”. Sự thay đổi ấn tượng trên là điều dễ hiểu, bởi Chris Pratt sẽ thủ vai Peter Quill trong bộ phim của Marvel nói về những “vệ binh của dải ngân hà”. Để vào vai chính Peter Quill, Pratt không chỉ rèn luyện hình thể mà còn cất công tìm hiểu các bộ phim tương tự để vào vai thật tốt. Kết quả là Pratt cho rằng nhân vật “từ kẻ trộm hóa người hùng” của mình là sự kết hợp giữa hai nhân vật nổi tiếng Han Solo (trong loạt phim Star Wars) và nhà khảo cổ học ưa phiêu lưu Indiana Jones (trong loạt phim Indiana Jones). Trả lời phỏng vấn tờ Entertainment Weekly khi được lên trang bìa của tạp chí danh tiếng này vào đầu tháng 7, Pratt cho rằng mình được đạo diễn James Gunn đặt trọn niềm tin và đã thực hiện tốt vai diễn. Chris Pratt thời còn sở hữu thân hình mũm mĩm (trái) và sau khi giảm cân, tập luyện để vào vai Star Lord trong "Guardians of the Galaxy". Tương lai đang có vẻ rất sáng sủa đối với Chris Pratt, khi anh được lựa chọn vào vai chính trong một bộ phim lớn khác là Jurassic World sẽ ra mắt năm 2015. Còn hiện tại, tài tử này đang hồi hộp chờ đợi phản ứng từ khán giả vớiGuardians of the Galaxy. Trước loạt phim X-Men, Hugh Jackman chỉ là một diễn viên vô danh. Trước khi có Thor, Chris Hemsworth và Tom Hiddleston đều không được nhiều người biết tới. Trước khi Iron Man ra mắt, Robert Downey Jr. vẫn phải vật lộn để trở lại đỉnh cao sau nhiều năm nghiện ngập. Nhưng những bộ phim kể trên của Marvel đều đã biến họ thành những ngôi sao hạng A được đông đảo khán giả yêu mến. Và giờ đây, cơ hội đổi đời đó đã được trao cho Chris Pratt. Nguồn: vnexpress.net
  5. Lấy cảm hứng từ câu chuyện có thật, The Danish Girl (Cô gái Đan Mạch) là câu chuyện về Lili Elbe – người chuyển giới đầu tiên trên thế giới. Mọi chuyện bắt đầu từ một buổi chiều, khi chàng họa sĩ tài năng Einar Wegener (do Eddie Redmayne thủ vai) – được vợ là Gerda (do Alicia Vikander thủ vai) nhờ hóa trang làm mẫu nữ để vẽ tranh. Lần đầu khoác lên mình bộ váy mềm mại, Einar vô cùng bất ngờ khi nhận ra những cảm xúc khác biệt đang trỗi dậy trong mình... Mọi thứ ban đầu tưởng như một trò chơi của đôi vợ chồng nghệ sỹ. Sự hóa thân đến trọn vẹn vào vai một cô gái của chồng khiến Gerda thích thú. Cô thậm chí còn đưa anh tới những sự kiện và buổi tiệc tùng. Câu chuyện trở nên phức tạp khi Einar nhận ra những bộ váy cùng tạo hình duyên dáng mới chính là thế giới mà mình thuộc về. Để rồi từ đây, con đường tìm lại chính bản thân đã đưa Einar Wegener tới thế giới đầy phiêu lưu của Lili Elbe. Phim là hành trình đi tìm bản thân của Eniar Wegener Mang thông điệp xuyên suốt “Find courage to be yourself”, phim là hành trình dũng cảm nhưng đầy đau đớn của Einar Wegener trên con đường tìm lại chính mình. Bất chấp tình yêu lớn dành cho vợ, Einar Wegener không thể che giấu những cảm xúc thực về con người mình: “Tôi mơ giấc mơ của Lili. Cô ấy luôn ở đó”. Hạnh phúc lớn nhất của Einar là trên hành trình đau đớn cả về tinh thần và thể chất, anh luôn có vợ mình - Gerda bên cạnh với một tình yêu và sự hy sinh lớn lao. Trong một cuộc phỏng vấn, nữ diễn viên Alicia Vikander, người thủ vai Gerda nhấn mạnh: The Danish Girl không là câu chuyện của “hiện tại” mà là câu chuyện của hơn 100 năm về trước nơi mọi thứ khác xa bây giờ. Trong bối cảnh định kiến xã hội còn nặng nề, y học hạn chế, hầu hết các bác sỹ có sẵn kết luận Einar Wegener bị chứng “tâm thần phần liệt”, khao khát mãnh liệt được là chính mình trở nên bi kịch hơn. Nhưng cũng chính trong bi kịch đó, sự dũng cảm của cả hai: một người đi theo tiếng gọi từ tâm hồn, một người đau đớn chứng kiến sự biến mất của người chồng đầy yêu thương để chấp nhận một Lili mới… đã để lại cho khán giả nhiều cảm xúc khó nói thành lời. Không chỉ có Eddie Redmayne Chủ nhân tượng vàng Oscar Eddie Redmayne và màn hóa thân vào vai diễn chuyển giới của anh là điều được báo chí nhắc đến nhiều nhất trước khi bộ phim ra mắt. Một năm sau chiến thắng ở Oscar với vai diễn nhà thiên văn hàng đầu thế giới chống chọi với căn bệnh nan y ALS Stephen Hawking, Eddie Redmayne tiếp tục chứng tỏ tài năng với với The Danish Girl. Dù đã được tiết lộ từ trước nhưng hình ảnh Lili với đôi môi đỏ, cử chỉ duyên dáng, khao khát mãnh liệt được sống với đúng bản thân vẫn khiến người hâm mộ nam tài tử nước Anh bất ngờ. Eddie Redmayne đã có màn hóa thân trọn vẹn vào hai vai Lili và Eniar Chia sẻ trên tờ New York Daily News, Eddie cho biết, ngày đầu tiên khi trở thành Lili Elbe, rất nhiều ánh mắt từ các thành viên đoàn làm phim đổ về phía anh. “Thực sự lúc đó tôi cảm thấy rất bối rối”, Eddie chia sẻ. Anh cũng tiết lộ thêm nỗi sợ luôn thường trực trong đầu khi đảm nhiệm vai Lili Elbe là “bản thân không đủ xinh đẹp” giống như những cô gái thực sự khác. Vượt qua rào cản đó, Eddie Redmayne đã hoá thân hết mình vào nhân vật. Những cái run tay rất nhẹ, cái quay đầu khẽ hay giọt nước mắt dằn vặt đau đớn trước quyết định sống thật với bản thân đều thể hiện sự kết nối và đồng cảm sâu sắc với nhân vật. Bên cạnh màn trình diễn của Eddie Redmayne, ở một khía cạnh nào đó, tình yêu lạ lùng và cao cả của hai nhân vật chính đã giúp câu chuyện chạm được vào trái tim người xem. Chứng kiến sự biến mất dần của người chồng mình yêu, để làm quen và yêu thương một con người mới là một chuyện không hề dễ dàng và khó ai có thể chịu đựng nổi nếu không có một tình yêu lớn lao. Nhưng Gerda – bằng sự dũng cảm tuyệt vời đã ở có mặt ở đó. Những tình tiết đắt giá nhất của phim cũng là những chi tiết thể hiện sự kết nối giữa hai tâm hồn. “Bọn mình đi uống cà phê và sau đó mình hôn anh ấy… Đó là cảm giác lạ lùng nhất. Nó giống như mình đang hôn chính mình vậy”, Gerda kể về ngày đầu tiên gặp gỡ với Einar. Cả hai nhân vật trong phim đã vượt qua hành trình đau đớn bằng một tình yêu lớn lao Một hành trình đau đớn với Eniar cũng là hành trình đầy nước mắt được giấu vào trong với Gerda. Trong những phút tuyệt vọng nhất, cô đã cầu xin được thấy lại chồng mình, được nói chuyện và ôm lại người đàn ông mà cô yêu… Trả lời lại chỉ là tiếng xin lỗi đầy dằn vặt của một Lili mới. Tưởng như mọi thứ vượt qua sức chịu đựng nhưng cuối cùng bằng tình yêu, Gerda đã bền bỉ ở đó cho đến cuối hành trình. Chiếc khăn bay lên không trung trong bầu trời tuyệt đẹp ở con vịnh xưa cũ với câu nói “cứ để nó bay lên” đã nói thay khát vọng và tình yêu tự do của Eniar và Gerda. Và tất cả đều muốn nói gì đó sau khi ra khỏi rạp The Danish Girl sau khi ra mắt đã nhận được sự phản hồi mạnh mẽ từ giới phê bình ở rất nhiều LHP quốc tế và mở ra cơ hội giành nhiều giải thưởng danh giá cho các dàn diễn viên cũng như bản thân bộ phim trong đó có Quả cầu vàng, BAFTA hay sắp tới là Oscar. Nhiều ý kiến tích cực, không ít những ý kiến trái chiều nhưng đều có một điểm chung, tất cả đều muốn nói một điều gì đó khi ra khỏi rạp… http://vtv.vn/van-hoa-giai-tri/the-danish-girl-co-gai-dan-mach-hanh-trinh-dung-cam-de-duoc-la-chinh-minh-20160113064518493.htm
  6. Dù được fan hâm mộ khen ngợi hết lời, X-Men: Apocalypse trong mắt các nhà phê bình khó tính vẫn chỉ là một tác phẩm màu mè, nhồi nhét quá nhiều thứ với những lỗ hổng kịch bản khá ngô nghê. Phô trương quá mức cần thiết Ngay từ khi khởi động dự án, các nhà làm phim của X-Men đã không ngừng “khen ngợi” hết lời về năng lực của dị nhân Apocalypse, người được cho là dị nhân lâu đời và hùng mạnh nhất từ trước đến nay của loạt phim. Trong nửa đầu của X-Men: Apocalypse điều này có vẻ khá… đúng, nhưng càng về sau, khán giả lại càng thấy hụt hẫng. Bởi ngoài giọng nói “ồm ồm” quyền lực và khả năng điều khiển vật chất không giới hạn thì Apocalypse lại tỏ ra là một dị nhân… không thông minh cho lắm. Trước tuyên bố sẽ thu phục các dị nhân hùng mạnh nhất thế giới làm đệ tử của mình, Apocalypse đã không làm gì khác ngoài việc… bạ đâu chọn đấy và liên tục nâng cấp năng lực cho những người mà mình tình cờ chọn được. Bên cạnh đó, sự quyết liệt của Apocalypse khi đối đầu với các dị nhân thiện cũng như trong trường đoạn đánh nhau cuối cùng gần như là không có. Bởi lẽ, các nhà làm phim đã “lỡ tay” tạo ra một nhân vật quá hùng mạnh nên họ phải sử dụng nhiều tình tiết khác, nhiều lời thoại và các trường đoạn cảm xúc để… đánh lạc hướng và câu giờ. Tuy nhiên, điều đó vẫn không qua mắt được những người xem phim tinh ý. Ý đồ kịch bản muốn “cầm chân” Apocalypse đã hiện ra rất rõ rệt và cho đến tận khi kết thúc, cách giải quyết vấn đề cũng như lý do phe dị nhân thiện chiến thắng được cái ác vẫn khiến người xem khó hiểu. Rốt cuộc, một dị nhân mạnh như Apocalypse còn phải khuất phục thì liệu sau này, sức mạnh của ác nhân Magneto hay các ác nhân khác có còn nghĩa lý gì nữa? Ngoài việc loay hoay với cách giải quyết số phận Apocalypse, X-Men: Apocalypse cũng mắc phải một vấn đề mà nhiều bộ phim về siêu anh hùng gần đây thường mắc phải. Tương tự như Batman v Superman hay Captain America: Civil War trước đó, tác phẩm này bị nhồi nhét một khối lượng triết lý quá dày đến mức người xem đôi khi phải… buồn ngủ vì lắng nghe nhân vật thoại. Đó là chưa kể, do có liên hệ quá mật thiết với các phần trước nên X-Men: Apocalypsekhó lòng được xem là một tác phẩm điện ảnh độc lập. Nó giống như một tập trong một loạt phim dài trên truyền hình hơn. Và vì vậy, vô tình các nhà làm phim đã thu hẹp đối tượng của mình, khiến nó chỉ thực sự hấp dẫn với những ai yêu thích X-Men, yêu thích các nhân vật trong đó. Quick Silver là nhân vật có cảnh gây hài trong phần này, nhưng nó chỉ là một phiên bản na ná trong phần trướcẢNH: CHỤP MÀN HÌNH TRAILER Cũ kỹ và thiếu đột phá Trang web đánh giá phim nổi tiếng là có những bình luận khắc nghiệt Rottentomatoes chỉ chấm bộ phim này ở mức 51%, một con số khá thấp. Nhiều nhà chuyên môn nhận xét rằng loạt phim X-Men đã đi qua thời đỉnh cao và dù có cố gắng cách mấy, nó vẫn không trở lại như cũ được. Việc đạo diễn Bryan Singer cho thực hiện tiếp một phân đoạn vui nhộn, hài hước của nhân vật Quick Silver trong phần này (tương tự như X-Men: Day of Future Past) kỳ thực là một con dao hai lưỡi. Nó cho thấy Bryan Singer “hiểu” khán giả đã từng yêu thích cảnh phim đó như thế nào, nhưng mặt khác, nó cũng thể hiện lối mòn trong tư duy và việc không chịu sáng tạo nên cái mới của ông, X-Men: Apocalypse chính vì thế mà cũ đi bội phần. Dĩ nhiên, không thể đổ lỗi cho riêng cảnh phim cứu người của Quick Silver, mà còn nhiều yếu tố khác biến X-Men: Apocalypse thành một tác phẩm lạc hậu. Gần như tất cả các pha trình diễn ngoạn mục hay trang phục của các dị nhân trong phim đều đã là những thứ quá cũ. Không có gì mới lạ, độc đáo, một chút cũng không. Cảm giác của những ai vốn rành phim X-Men khi xem phim này cũng giống như việc… đi nghe lại một buổi hòa nhạc cũ mình từng nghe, chỉ có điều thứ tự bài hát đã được đảo lộn. Dĩ nhiên, những khán giả trung thành với loạt phim có thể chấp nhận với điều đó, nhưng nó không thể là thứ có thể dùng để bao biện cho lối mòn trong tư duy của đạo diễn và biên kịch. Có thể những ai yêu quý tác phẩm này sẽ thấy phần bình luận nói trên là có phần hơi khắt khe. Nhưng dù đắng, nó vẫn là sự thật. X-Men: Apocalypse có lẽ đã đến lúc cần phải thay một đạo diễn mới với tư duy mới lạ, đột phá hơn. Bryan Singer đã và đang bắt đầu “hết chiêu” trong chính cái ván cờ mà mình đã từng là một “bá chủ”. Nguồn: http://thanhnien.vn/van-hoa/nhung-ly-do-khien-xmen-apocalypse-thanh-mot-bo-phim-do-707078.html
  7. Trong phần phim này, chú gấu Po tìm thấy người cha thất lạc của mình - Ảnh: CGV cung cấp Đồ họa đẹp mắt, nhịp phim kịch tính khiến Kung Fu Panda 3 chinh phục khán giả thành công, nhưng nó cũng là phần phim cho thấy Dreamworks nên cân nhắc đến việc dừng lại. Sự giao thoa văn hóa hài hòa Trong các loạt phim hoạt hình mà hãng Dreamworks từng tạo nên, có lẽ chỉ cóKung Fu Panda là mang đậm các yếu tố văn hóa nhất. So với series phimMadagascar đầy vui nhộn nhưng hơi thiếu khoảng lặng hay How To Train Your Dragon vẫn đang loay hoay đi tìm chất riêng thì Kung Fu Panda vốn từ năm 2008 đến nay đã định hình được vị trí riêng trong lòng người hâm mộ. Hình ảnh chú gấu trúc Po béo ú, vụng về bỗng nhiên được chọn là Thần Long đại hiệp và hết lần này đến lần khác chiến thắng kẻ ác đã trở thành biểu tượng của sự phóng khoáng, tự do và niềm tin vào những điều bất khả. Kung Fu Panda là một loạt phim mà ở đó cả người lớn lẫn trẻ em đều có thể khám phá được bài học cho riêng mình. Với phần 3 này, các nhà làm phim của Dreamworks vẫn đáp ứng được đầy đủ các yếu tố hài hước, tình cảm, đẫm chất văn hóa mà cũng tràn ngập những phân cảnh hành động. Và có lẽ, chính vì biết được khán giả đang bắt đầu hơi cảm thấy nhàm chán với những nhân vật cũ, ê-kíp đã rất thông minh khi tung ra hàng loạt nhân vật mới vô cùng đáng yêu, dễ mến. Cả một ngôi làng gấu trúc hiện ra trên màn ảnh rộng khiến bất cứ ai cũng phải trầm trồ thích thú. Và khi được kết hợp với sự đẹp mắt về mặt đồ họa, chúng đã âm thầm “xóa gọn” những khuyết điểm trong kịch bản mà bộ phim này mắc phải, chỉ để lại những ấn tượng đẹp về một câu chuyện hấp dẫn, lôi cuốn người xem từ đầu đến cuối. Phim vẫn hài hước và đậm chất văn hóa như hai phần trước - Ảnh: CGV cung cấp Tuy nhiên, điểm mạnh lớn nhất ở Kung Fu Panda rốt cuộc vẫn là một yếu tố then chốt: văn hóa. Sau hai phần phim “cày nát” khái niệm kung fu thì giờ đây các nhà sản xuất bắt đầu chuyển sang xoay quanh câu chuyện của khí công. Võ học Trung Hoa vốn rất bao la nên cũng là mảnh đất màu mỡ để các nhà làm phim Hollywood thỏa sức sáng tạo, điều này vô tình biến Kung Fu Panda 3 trở thành một món ăn lạ mà dù đã thưởng thức 2 phần người ta vẫn còn "thòm thèm". Hiếm khi nào điện ảnh thế giới lại có được sự giao thoa hài hòa và chỉn chu đến vậy. Và đó mới chính là lý do khiến loạt phim này nổi tiếng, còn Kung Fu Panda 3 lại tiếp tục thành công. Nên tiếp tục hay dừng lại? Trước và cả sau khi Kung Fu Panda 3 công chiếu, khán giả vẫn luôn không ngừng đặt ra câu hỏi: Liệu series này đã kết thúc tại đây chưa? Kỳ thực, 3 phần chưa phải là quá dài đối với một loạt phim thành công, nhưng với trường hợp này, rất dễ thấy nếu tiếp tục kéo dài, Kung Fu Panda có thể sẽ rơi vào lối mòn và chịu tình cảnh thất bại bi đát.Bởi lẽ, Kung Fu Panda 3 dù được đáp ứng rất tốt về mặt kỹ thuật, cài cắm tình tiết, đồ họa công phu, nhạc phim hay tiết tấu dồn dập, nhưng cái cốt lõi là một ý tưởng mới lạ thì tác phẩm lại không hề có. Nó chỉ dễ thương và đáng yêu chứ chưa thể tạo ra đột phá, và cũng chính vì thế mà nhiều nhà phê bình cho rằng Kung Fu Panda nên dừng lại ở đây cho tròn trịa. Nhiều nhân vật mới xuất hiện trong phần 3 - Ảnh: CGV cung cấp Trong khi đó, nhà sản xuất của phim lại từng công bố rằng có thể hãng Dreamworks sẽ cân nhắc đến việc thực hiện thêm 3 phần nữa, nghĩa là Kung Fu Panda sẽ có đến 6 phần. Một con số mà bất cứ loạt phim hoạt hình nào cũng phải mơ ước. Nếu giả thuyết này là thật, thì Kung Fu Panda có lẽ nên được chuyển sang một hướng đi khác mang tính đột phá hơn nhằm giữ chân người xem.Bởi công chúng đôi khi có thể dễ dãi bỏ qua sự cũ kỹ vì thích thú trước những hình ảnh của những nhân vật đáng yêu, dễ thương, nhưng đó là điều mà các nhà làm phim không bao giờ nên lạm dụng. Chủ đề “Tôi là ai” vốn là chiếc xương sống xuyên suốt 3 phần phim nên được tạm gác sang một bên. Chú gấu Po đã đến lúc trưởng thành và thôi loay hoay trước những chất vấn bản thân, thay vào đó, chú ta cần sống một cuộc đời của một anh hùng trưởng thành thực thụ.Tiêu Thiên
  8. Mới đi coi film này về. Viết vài dòng tám dóc chơi. (Mình sẽ không spoil nội dung. Các bạn muốn spoil thì vui lòng dùng thẻ spoiler). Lần cuối coi film 5 ae siêu nhân là cuốn "Mighty Morphin Power Rangers: The Movie" hồi cấp 1. Coi ké thằng nhóc "đại gia" hàng xóm vì mỗi nhà nó có đầu đọc băng VHS. Fast forwarding chục năm sau, mình cắp đít ra rạp coi Power Rangers vì hên đc vé rẻ. Vắn tắt nội dung film PR mới: 5 cô cậu học sinh cấp 3 vô tình tìm đc 5 Power Coins và cùng nhau tập luyện dưới sự hướng dẫn của Zordon & con robot Alpha 5 (bá đạo hơn mấy con hồi trc) để chống lại Rita Repulsa. Mình thấy kịch bản film hợp lí, ko quá dài dòng (từ lúc nhặt được coin tới lúc bem nhau). Có thể một số sẽ ko thích vì ~ cảnh hành động hơi ít ỏi. Nhưng với mình như vậy là được. Mình có thời gian hiểu rõ hơn về từng nhân vật, về những trở ngại mà cả nhóm phải vượt qua (cá nhân lẫn tập thể). Sự phát triển tính cách của các nv ko quá gượng ép. Với một film có tính giải trí đơn thuần thì mình thấy như vậy là quá hay. Nhiều bình luận mình đọc trên mạng ví PR như là The Breakfast Club cộng thêm siêu năng lực. CGI tốt, nhạc cũng hay. Nghe lại bài "Go Go Power Rangers" hồi xưa mà muốn nhảy tưng tưng. Nói chung film này mình chấm 7.5/10 (bonus .5đ vì pink ranger cute quá) Film có 1 cảnh mid-credit, mấy bạn ở lại chờ.
  9. Mở đầu bài viết tưởng nhớ nữ minh tinh hồng nhan bạc mệnh Margaret Sullavan nhân 100 năm ngày sinh của bà trên The New Republic, nhà phê bình điện ảnh David Thompson đã viết: Thỉnh thoảng, bạn gặp phải những người chưa từng xem “The Shop Around the Corner”. Những người như vậy cũng không có gì khác thường. Họ nói tiếng Anh, họ ăn vận, họ chải chuốt. Họ có thể đang dắt chó đi dạo hoặc đang tìm một ly vang nho đen trong một bữa tiệc, và họ nói: “Anh bảo phim nào cơ?” Họ thản nhiên trước việc không biết đến bộ phim, nhất là khi bạn cho họ biết nó đã ra đời được 71 năm và là phim đen trắng. Cũng có những người cho rằng những thứ như vậy vượt quá tầm hiểu biết hay mức lương công việc của họ, như nạn đói ở Đông Phi hay sự thoát khí mê-tan từ băng vĩnh cửu ở Siberia. Không sao cả, ổn thôi, vì chưa từng xem “The Shop Around the Corner” còn dễ cứu chữa hơn những vấn đề nêu trên. Và ông kết thúc bài viết bằng câu: Có những người lại hỏi: “Có phải Nora Ephron từng làm lại phim đấy, với... Meg Ryan không?” Tôi bảo họ: “Không.” Bộ phim với sự tham gia của Meg Ryan mà Thompson nhắc đến là “You’ve Got Mail”, một phiên bản điện ảnh khác cũng dựa trên vở kịch “Parfumerie” của nhà soạn kịch người Hungary Miklós László. Bản thân bộ phim không phải là một tác phẩm tồi, nhưng khi đặt trong sự so sánh, đối chiếu với kiệt tác của Ernst Lubitsch, tất cả những đánh giá tiêu cực đã đến với nó như một hệ quả tất yếu. Cũng như việc không biết đến “The Shop Around the Corner”, kể cả đối với những người yêu điện ảnh, không phải là điều quá nghiêm trọng, nhưng bởi bộ phim nằm trong danh sách 10 phim yêu thích nhất của Thompson, nó trở thành một vấn đề cần được “cứu chữa”, đặc biệt đối với người Mỹ và những nước nói tiếng Anh. Tuy nhiên, những quan điểm và đánh giá của Thompson không phải là quá chủ quan hay hồ đồ. Nhiều nhà phê bình, phân tích điện ảnh khác cũng từng đặt “The Shop Around the Corner” ở một vị thế rất cao trong lịch sử phát triển của môn nghệ thuật thứ bảy, như một chuẩn mực về nghệ thuật làm phim và diễn xuất với những góc quay, những biểu cảm gương mặt và những đoạn đối thoại đã trở thành kinh điển. Áp phích phim. Ảnh: MGM “Cửa hàng bên ngã rẽ” Phim lấy bối cảnh ở Budapest, Hungary, tại một cửa hàng quà tặng nằm gần ngã rẽ giữa hai con phố đông đúc người qua lại, Matuschek & Co. (tạm dịch: Công ty Matuschek), trong không khí Giáng sinh đang “đến rất gần” (“just around the corner” – một cách đặt tên phim khá thú vị của Lubitsch). Mùa lễ hội cũng là thời điểm mọi người hối hả mua sắm, các cửa hiệu tấp nập người ra người vào. Cô gái trẻ Klara Novak (Margaret Sullavan) đang tuyệt vọng kiếm tìm một công việc đã bấu víu vào hy vọng đó để đến Matuschek & Co. xin ứng tuyển vào vị trí bán hàng. Tại đây, cô gặp Alfred Kralik (James Stewart), quản lý cửa hàng, và nhận được một lời từ chối lịch sự, nhưng vì gây được ấn tượng tốt với Giám đốc cửa hàng, ngài Matuschek, Klara được nhận vào làm nhân viên chính thức ở đây. Từ đó, giữa cô và Kralik nảy sinh những mâu thuẫn, bất đồng, cãi vã, và hai người trở thành kẻ thù không đội trời chung với nhau, trong cả công việc lẫn đời sống. Có một điều mà cả hai đều không ngờ tới đó là họ từ lâu đã là “tri kỷ” (dear friend) qua thư, và đang dần xây đắp một mối quan hệ nghiêm túc dựa trên những tâm sự và cảm xúc hai người dành cho nhau qua những bức thư đều đặn được trao đổi. Họ có đến được với nhau không? Có lẽ đó không phải là dấu hỏi chấm lớn của bộ phim, mà là cách họ đến với nhau, cách họ chấp nhận tình cảm từ đôi bên, và cả cách mà từng người một thoát ra khỏi những lá thư để thật sự rung động trước tình yêu bằng xương bằng thịt của mình. Margaret Sullavan và Jimmy Stewart. Ảnh: MGM Chất hài hước kiểu Lubitsch Đó có thể là một cách gọi khá tùy tiện, nhưng “The Shop Around the Corner” hay những bộ phim gắn liền với tên tuổi của Ernst Lubitsch đều mang nét hài hước rất riêng cuốn hút người xem, dù là giới chuyên gia hay tầng lớp khán giả đại chúng. Nói đến phim của Lubitsch, trước khi đao to búa lớn về cách dựng phim, những cú bấm máy hay ý nghĩa sâu xa ẩn trong từng đoạn phim, trước hết có lẽ người ta sẽ nói đến yếu tố giải trí, mà tiêu biểu đó là tiếng cười. Tiếng cười bật ra một cách rất tự nhiên, không gượng ép, nhẹ nhàng mà sảng khoái, âm thầm mà sâu cay, xuất phát từ những câu nói, những hành động vô tình hoặc cố ý của các nhân vật, để từ đó tính cách của từng người dần được khắc họa, định hình. Ngoài hai nhân vật chính Alfred Kralik và Klara Novak với những màn đấu khẩu không có điểm dừng, từ những chuyện nhỏ nhặt như gói kiện hàng đến những vấn đề lớn lao như văn chương hay tâm hồn con người, mà qua đó ta thấy được nét thông minh, cá tính, bốc đồng, mạnh mẽ của cả hai; thì những nhân vật phụ như ông bạn thân của Kralik, Pirovitch (Felix Bressart) luôn rụt rè lẩn tránh mỗi khi ngài Matuschek hỏi xin ý kiến vì sợ làm phật lòng ông chủ; cậu thanh niên chặy việc vặt Pepi Katona (William Tracy) lém lỉnh, khôn lỏi, lúc nào cũng nhanh nhảu chạy ra mở cửa xe cho ông chủ và nghĩ ra đủ cách để trốn sự sai bảo của vợ ông; tay đồng nghiệp dẻo miệng Ferencz Vadas (Joseph Schildkraut) thích trưng diện không khỏi khiến những người xung quanh thắc mắc tại sao gã lại có được nhiều tiền như vậy với công việc hiện tại; hay ngài Giám đốc Hugo Matuschek (Frank Morgan) đôi khi hách dịch, khó tính, khó hiểu nhưng trong thâm tâm vẫn hết lòng yêu thương nhân viên cũng như cửa hàng có thể ví như ngôi nhà thứ hai của ông... cũng đều dần dần bộc lộ bản chất, con người mình qua từng tình tiết phim, từng cái thắt nút, mở nút. Người xem có thể không ngạc nhiên nhưng sẽ không thể thấy nhàm chán, có thể không cười thành tiếng, thành tràng nhưng vẫn sẽ nhoẻn miệng thán phục trước sự đan cài, lồng ghép khéo léo của đạo diễn. Bộ phim đem lại cho ta đủ mọi cảm xúc mà vẫn giữ được sự cân bằng cần thiết để dẫn dắt ta đi đến hồi kết một cách trọn vẹn nhất. Đó có thể không phải là chất hài hước chỉ riêng Lubitsch mới có, nhưng chắc chắn không ai có thể làm tốt bằng ông. Một tình tiết hài hước trong phim. Ảnh: MGM Nghê thuật làm phim bậc thầy và diễn xuất tài tình đã trở thành mẫu mực Ernst Lubitsch là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ điện ảnh Đức đầu tiên, cùng với Fritz Lang, Billy Wilder và nhiều đạo diễn tên tuổi khác. Sang Mỹ năm 1922 để theo đuổi Hollywood, sự nghiệp của ông trải dài trên cả thời kỳ phim câm và phim tiếng với những di sản vô giá cho nền điện ảnh xứ cờ hoa như “Ninotchka”, “To Be or Not to Be”, và đặc biệt là “The Shop Around the Corner”, bộ phim được ông đánh giá là tác phẩm xuất sắc nhất mình từng làm ra trong sự nghiệp. Không có nhiều phim, nếu không muốn nói là chỉ có “Citizen Kane”, đạt được sự hoàn hảo như của “The Shop Around the Corner”. Không một tình tiết thừa, không một lời thoại, hành động, khoảnh khắc sai lệch quỹ đạo, không một cú lia máy làm xao lãng người xem khỏi những gì đang diễn ra trên màn ảnh. Mọi thứ được đặt vào đúng vị trí của nó và vận hành một cách êm ru, thoạt khiến ta không còn cảm giác mình đang xem một bộ phim nữa, mà thay vào đó là những con người đang nói chuyện và tương tác với nhau, điều mà chỉ có bàn tay chỉ đạo tài tình của Ernst Lubitsch mới có thể tạo nên. Dàn diễn viên phụ xuất sắc của phim. Ảnh: MGM Có thể có nhiều ý kiến trái chiều, nhưng Margaret Sullavan tuyệt nhiên không phải là nữ diễn viên quyến rũ nhất thập niên 1940. Vị trí đó có lẽ phù hợp hơn với những Ingrid Bergman hay Greta Garbo (người từng hợp tác với Lubitsch trong “Ninotchka” trước đó không lâu) ... Nhưng “vẻ thông minh và mong manh đối lập, đôi mắt đầy khao khát và giọng nói khàn mà êm ái” như lời nhận xét của David Thompson khiến bà trở thành mảnh ghép hoàn hảo cho vai nữ chính của phim. Một diễn viên quyến rũ sẽ không thể truyền tải được thứ tình yêu nảy sinh từ trái tim và cảm xúc giữa hai nhân vật chính, như họ luôn một mực khẳng định ngoại hình không phải thứ họ quan tâm ở nhau. Một diễn viên quyến rũ sẽ không thể đem lại cho nhân vật Klara cái cảm giác luôn đứng trên bờ vực đổ vỡ, mà chỉ một thay đổi nhỏ trong cảm xúc thôi cũng đủ xô ngã. Lubitsch hiểu rõ những gì mình cần có, và ông bước những bước đi thật chính xác để giành được chúng, Margaret Sullavan là một trong số đó. Nữ minh tinh yểu mệnh từng trải qua bốn cuộc hôn nhân mà không tìm được hạnh phúc để rồi kết thúc cuộc đời vào ngày đầu tiên của năm mới 1960 ở tuổi 49 với nguyên nhân không được xác định rõ ràng ấy được ông nhắm đến duy nhất cho bộ phim mà ông biết sẽ trở thành kiệt tác lớn nhất cuộc đời làm phim của mình, vì ông đã nhìn thấy được sự mong manh kia trong vẻ ngoài dễ thương, xinh xắn của bà. Cùng với Jimmy Stewart, Margaret Sullavan đã tạo nên một chuẩn mực mới về diễn xuất, nơi ranh giới giữa diễn và thật gần như được xóa nhòa. Nhắc đến Jimmy Stewart, người ta hẳn sẽ nghĩ ngay đến anh Thượng nghị sĩ ngây ngô, thật thà Jefferson Smith với màn diễn thuyết liên tục gần một ngày trước Quốc hội trong “Mr. Smith Goes to Washington” hay con người cao cả, đầy lòng vị tha George Bailey trong tác phẩm kinh điển mang tinh thần Giáng sinh và Năm mới bất diệt “It's a Wonderful Life”. “The Shop Around the Corner” rõ ràng không phải là một cột mốc quá lớn trong sự nghiệp lỗi lạc của ông, nhưng nếu thiếu đi Jimmy Stewart, vai diễn của Margaret Sullavan chắc chắn sẽ không đạt đến đỉnh cao khó ai có thể vươn tới kia. Vẻ mặt háo hức, vui sướng, hồn nhiên của hai người, đặc biệt là Klara, khi cầm trên tay bức thư từ người kia; sự hậm hực họ dành cho nhau tại nơi làm việc, lúc cả hai đã bước ra khỏi những dòng thư và câu chữ lãng mạn, bay bổng; hay những lời nói bốp chát, châm chọc, an ủi, âu yếm của hai bên; những thứ đó đến từ Kralik và Klara hay chính Jimmy Stewart và Margaret Sullavan? Thật khó để phân biệt được nếu ta chỉ tình cờ ngồi trước màn ảnh và không hề hay biết đây chỉ là một bộ phim. Ernst Lubitsch cùng Jimmy Stewart và Margaret Sullavan trên trường quay. Ảnh: MGM Cuộc đối thoại trong quán cà phê, nơi lẽ ra đã là địa điểm cho một cuộc hẹn hò lãng mạn, được Thompson đánh giá là “cảnh gặp gỡ xuất sắc nhất trong lịch sử điện ảnh Mỹ”. Nhận xét này không hề cường điệu, bởi đoạn phim dài gần 9 phút này xứng đáng được đưa vào sách giáo khoa giảng dạy kỹ thuật dựng phim. Trong cảnh phim khi Kralik đến quán cà phê cùng Pirovitch, đứng ngoài cửa sổ nhờ ông xem hộ người phụ nữ mình đang thư từ, Lubitsch chỉ sử dụng duy nhất những cảnh quay hai người (two-shot) và một lần cắt cảnh. Điều này có phần khác với phong cách nối tiếp không gian – thời gian (Continuity Editing) mà ông là một đại diện tiêu biểu ở thời kỳ phim câm. Đầu tiên, máy quay dõi theo hai nhân vật bước lại gần cửa sổ. Sau đó là một cảnh quay rất dài chỉ có hai người đứng nói chuyện bên ngoài, để thuật lại những gì diễn ra bên trong quán. Một đạo diễn bình thường hẳn sẽ dùng những cảnh quay dõi theo tầm nhìn của Pirovitch (point-of-view shot), theo sau đó là những cảnh quay phản ứng của ông, ngay như Nora Ephron trong “You’ve Got Mail” đã làm với Dave Chappelle. Lubitsch thì chỉ tập trung vào những biểu cảm và động tác cơ thể của Kralik đáp lại lời tường thuật của Pirovitch, đem lại cho người xem cảm giác tò mò, hồi hộp trong anh sau từng câu nói, dù đã biết trước người ngồi trong quán là Klara. Tuy nhiên, ông cũng không quay cận cảnh Kralik mà chỉ để máy quay chuyển động rất nhẹ sang phải nhằm ghi lại những hành động của anh, giữ cho tương tác giữa Kralik và Pirovitch được liền mạch. Cách quay phim ấy đòi hỏi và cũng cho phép cả Felix Bressart và Jimmy Stewart sử dụng ngôn ngữ cơ thể vô cùng linh hoạt mà không quá cường điệu: giãn vai, gật đầu, rướn người..., điều Tom Hanks và Dave Chappelle đã không làm được trong phiên bản năm 1998. Sau khi Kralik và Pirovitch chia tay, Lubitsch chuyển cảnh vào trong quán cà phê, nơi Klara nói chuyện với người bồi bàn. Tiếp tục là một cảnh quay liên tục, với chỉ hai lần cắt cảnh để quay cuốn tiểu thuyết Anna Karenina với bông cẩm chướng trên bàn hai người dùng làm dấu hiệu nhận ra nhau. Lúc này, Kralik quyết định trở lại quán, nhưng thay vì dựng xen kẽ (crosscutting) cảnh Kralik bên ngoài thì Lubitsch lại chỉ dịch máy quay lên để thu lại hình ảnh của anh qua ô cửa kính, ít nhiều đem đến sự dí dỏm cho cảnh phim. Khi Kralik và Klara gặp nhau trong quán, ông cắt cảnh nhiều hơn, dù vậy vẫn thường giữ cả hai trong một khung hình kể cả là quay cận cảnh. Những cú quay cận cảnh nhất là lúc cuộc đối thoại giữa hai người lên đến cao trào với những lời nói móc, chê bai, giễu nhại, thậm chí là khinh thường nhau. Sự khó chịu của cả hai như ẩn giấu những thất vọng và lo âu từ sâu trong mỗi người. Với Kralik thì đó là nỗi buồn triền miên: anh bị sa thải, khi đến cuộc hẹn với người phụ nữ mà anh đã đặt bao hy vọng trong suốt nhiều tuần liền thì phát hiện ra đó chính là người đồng nghiệp bấy lâu nay vẫn luôn bất đồng với mình. Với Klara thì đó là sự nóng lòng chờ đợi được gặp người đàn ông với những lý tưởng, quan điểm đã cứu rỗi cô khỏi cuộc sống tầm thường, vô vị, nhưng người cô được diện kiến lại chỉ là kẻ đã cướp mất cá tính và nhiệt huyết trong cô. Nỗ lực làm hòa của Kralik thất bại, cảnh phim khép lại trong đau đớn và nuối tiếc, tất cả diễn ra trên nền nhạc Ochi Tchornya, một trong những thứ đã khơi mào cho toàn bộ câu chuyện, và bản nhạc chủ đề của bộ phim. Cảnh phim tại quán cà phê. Ảnh: MGM Một cảnh quay xuất sắc khác là cảnh phim Klara đến bưu điện tìm kiếm bức thư từ người tình ẩn danh của mình. Máy quay từ đằng sau ghi lại bàn tay đeo găng của cô lục tìm hòm thư trống rỗng, và qua cánh cửa đang mở, khuôn mặt rạng ngời của Margaret Sullavan trong chốc lát bỗng trở nên ốm yếu, già nua, đau khổ vì tuyệt vọng. David Thompson gọi đó là “một trong những khoảnh khắc mong manh nhất của điện ảnh”. Cảnh quay Klara lục tìm hòm thư. Ảnh: MGM Ngoài hai diễn viên chính ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng người xem, Frank Morgan trong vai ngài Giám đốc Matuschek là một phát hiện thú vị của Lubitsch. Danh hài được biết đến nhiều nhất qua nhân vật Phù thủy trong “The Wizard of Oz” đã bộc lộ năng lực tiềm tàng của mình với một vai diễn mang chiều sâu và sức nặng tâm lý khác hẳn những bộ phim trước đó ông từng tham gia. Hugo Matuschek tuy là một ông chủ tốt nhưng luôn lạnh lùng giữ khoảng cách với các nhân viên của mình, khiến mọi người không thể hiểu được ông mỗi khi buồn bực hay cáu giận. Trong đêm Giáng sinh, sau khi đã mất đi người vợ yêu dấu từng chung sống suốt hai mươi năm trời và tự sát không thành trước sự can thiệp của Pepi, ông lại một lần nữa đơn độc giữa lòng Budapest kiều diễm khi từng nhân viên một từ chối lời mời của ông đến một nhà hàng sang trọng ăn mừng lễ hội để về đoàn tụ bên gia đình hoặc dành thời gian cho những người thương yêu. Duy nhất chỉ còn lại Rudy (Charles Smith), cậu thiếu niên chạy việc vặt thay Pepi, cùng ông bên đường phố trắng xóa tuyết rơi. Ông đành gạt sang một bên lòng kiêu hãnh vốn có để mời cậu đi ăn tối. Trong lúc nói về những món ăn hảo hạng mà hai người chuẩn bị thưởng thức, khuôn mặt Hugo Matuschek bừng sáng niềm hạnh phúc vì lần đầu tiên sau nhiều năm trời ông đã tìm được tri âm tri kỷ, vì ít nhất cũng đã có người đáp lại khi ông mở lòng, và càng đặc biệt hơn nữa khi đó lại là một tâm hồn đồng điệu sẽ cùng ông sẻ chia niềm vui Giáng sinh, ngày lễ của những hội ngộ và đoàn viên. Hugo Matuschek và Rudy trong đêm Giáng sinh. Ảnh: MGM Câu chuyện mang ý nghĩa xã hội không của riêng thời đại nào “The Shop Around the Corner” là một phim hài, và xuyên suốt bộ phim ta gần như không thấy một tình tiết bi lụy, thống thiết nào, nhưng không khí nó đem lại cho người xem thật chẳng mấy dễ chịu. Tất cả các nhân viên của cửa hàng đều phải vật lộn với cuộc sống hằng ngày, với những chi tiêu, sắm sửa, chi phí thuốc thang, ... và hy vọng duy nhất của họ đó là công việc cùng đồng lương eo hẹp mà ai nấy đều phải khúm núm trước ông chủ hòng giữ được. Ngay trong đoạn đối thoại đầu tiên giữa Pirovitch và Pepi, Lubitsch đã khắc họa thứ áp lực khủng khiếp đè nặng lên mỗi nhân vật ấy, tuy chỉ qua một câu nói bông đùa. Khi các nhân viên đã tụ tập đủ trước cửa tiệm, vấn đề dần trở nên nghiêm túc, tiền lương rõ ràng là điều sống còn với mỗi người, dù là người trung niên đã có gia đình và con cái, hay những người trẻ tuổi còn độc thân. Họ ngước nhìn cuộc sống của ông chủ với sự thèm khát. Họ cố gắng làm hài lòng ông bằng mọi cách, hay ít nhất cũng không gây ấn tượng xấu với ông, bởi vì họ biết mất đi công việc giờ này là mất đi tất cả, khi ngoài kia “hàng triệu người đang thất nghiệp”, và Giáng sinh đã gần kề. Khung cảnh lễ hội được Lubitsch khai thác triệt để nhằm hiện thực hóa nỗi trăn trở của tầng lớp lao động trong xã hội. “Chưa ai từng quan tâm đến cách các nhân vật kiếm sống – nếu bộ phim gây cười. Giờ thì họ đã quan tâm. Họ muốn câu chuyện của họ gắn liền với đời sống. Con người ngày nay ai cũng phải kiếm sống.”, ông tâm sự. Các nhân viên ngước nhìn cuộc sống của ông chủ với sự thèm khát. Ảnh: MGM Cái hiện thực không mấy đẹp đẽ ấy đôi khi khiến người ta muốn trốn tránh và tìm kiếm niềm an ủi, niềm vui trong những vấn đề văn hóa, nghệ thuật, nơi chỉ có những ước lệ, ẩn dụ, nơi vẻ đẹp là trường tồn và tâm hồn con người là cả một đại dương bao la những lý tưởng, quan điểm xa rời hoàn toàn sự tầm thường của miếng cơm manh áo, của đồng tiền bát gạo. Hai nhân vật chính tìm đến nhau cũng chính từ sự an ủi ấy, qua những bức thư. Nghịch lý ở đây đó là cả hai đều tự huyễn hoặc bản thân tin vào một tình yêu đích thực đến từ một người mà mình chưa từng gặp mặt; dành hết tâm huyết và tình cảm cho những dòng thư, mặc dù đó là con đường xa xôi nhất hai người có thể đến với nhau, để rồi khi đối diện nhau ở nơi làm việc, cả hai lại không thể tìm được tiếng nói chung, chỉ vì “không đi sâu vào tìm hiểu một khía cạnh của vấn đề để khám phá những sự thật bên trong”. Sự lãng mạn của những bức thư như chứa đựng một cảm giác cô đơn, tuyệt vọng âm ỉ từ cả Kralik và Klara. Lubitsch đặt tình yêu lý tưởng trong sự tương phản với thực tại nghiệt ngã, đặt nghệ thuật trong sự đối lập với áp lực đồng tiền để khẳng định: thực tế không tươi đẹp, nhưng nó là thật, là hữu hình, và con người chỉ có thể tìm thấy hạnh phúc khi biết chấp nhận nó, và sống hết mình với nó; như Kralik trong phần kết phim trước khi thừa nhận mình chính là “tri kỷ” của Klara đã dập tắt hoàn toàn những mộng tưởng và kỳ vọng trong cô về một người tình qua thư hoàn hảo, tất nhiên, vẫn bằng những câu nói châm biếm, mỉa mai hết sức thú vị, hài hước. Kralik và Klara trong cảnh phim cuối. Ảnh: MGM Hơn ba phần tư thế kỷ đã qua đi, dẫu hình ảnh có thể không còn hào nhoáng, dẫu nội dung có thể không còn cuốn hút người xem, tư tưởng và giá trị của bộ phim vẫn nguyên vẹn, bởi Budapest những năm 40 của thế kỷ XX được mô phỏng trong trường quay MGM ở California, Mỹ cũng chỉ là một trong rất nhiều Lubitschland (tạm dịch: Xứ Lubitsch) mà nhà viết tiểu sử Scott Eyman đã nhắc đến khi mô tả “Phong cách Lubitsch” (Lubitsch touch), và mỗi chúng ta trong xã hội hiện đại phải chăng cũng có thể tìm thấy đâu đó quanh mình một Kralik và Klara, hay một “cửa hàng bên ngã rẽ”? Được quay vỏn vẹn chỉ trong 28 ngày, sau khi “Ninotchka” hoàn thành và cả Jimmy Stewart lẫn Margaret Sullavan đều đã sẵn sàng, “The Shop Around the Corner” mang tất cả nét tinh tế, quyến rũ, huyền ảo của một bộ phim hài lãng mạn kiệt xuất, với những khung hình đen trắng lung linh mùa lễ hội. Nhưng hơn cả một bộ phim Giáng sinh kinh điển, nó xứng đáng là kiệt tác điện ảnh của mọi thời đại, một tác phẩm cảm động, ấm áp, hài hước nhưng vô cùng sâu lắng, đẹp và thấm đượm tình người.
  10. Viết vài dòng cho vui. AE đi coi rồi thì vô chém gió BTW, NO SPOILERS!!! Mình thấy film này hay, hình ảnh, hiệu ứng đẹp. Bố cục nội dung có hơi lan mang, ko gọn lắm (hóng bản Director's Cut coi sao). Dàn cast thì chuẩn rồi. Batfleck đúng là batman mà khán giả đáng được xem, có phần vượt hơn Christian Bale. Con boss cuối thì nó phá còn hơn Zod trong MoS. Cứ bị ăn đập là lại mạnh lên. Mà thấy nó giống mấy con troll trong Chúa Nhẫn. Âm nhạc thì quả combo Hans Zimmer với Junkie XL ko có chỗ nào chê. After credit: ko có gì hết, khỏi mất công chờ Anw, mình nghĩ, nếu như có film riêng của Batman với WW trước BvS thì sẽ hợp lí hơn. BvS làm có phần hơi nóng vội.
  11. Inside Out Mình có dịp may xem Inside Out tối qua. Đây là film đầu tiên trong năm của Pixar. Cuối năm sẽ có thêm film nữa là The Good Dinosaur. Bộ film nói về những cảm xúc khác nhau trong mỗi con người -- Joy, Sadness, Fear, Anger, Disgust (tạm dịch: Vui vẻ, Buồn chán, Lo sợ, Giận dữ, Ghê tởm). Đó là 5 nhân vật chính của film. Bối cảnh diễn ra chủ yếu ở Control Center (bên trong nhận thức của cô bé Riley.) Riley sinh ra ở Minnesota, rồi sau 1 t/gian thì chuyển qua San Francisco. Sự việc này ban đầu khiến Riley khá thất vọng và ko thể hoà hợp đc với môi trường mới. Diễn biến ra sao xin ko nói tiếp. Nhận xét ngắn gọn: mình thấy Inside Out là một bộ film tuyệt vời, rất giàu cảm xúc. Có những cảnh khiến mình khóc. Lần cuối cùng 1 bộ film hoạt hình làm mình khóc là Up (đoạn 2 vợ chồng đầu film). Film có thể có những tình tiết khó hiểu cho trẻ nhỏ, nhưng cũng khó trách vì Pixar hay làm film cho cả adult + children cùng lúc. Sau film này thấy hâm mộ đạo diễn Pete Docter quá. Chú này cũng là ng đạo diễn cho Up. Nhạc film là do Michael Giacchino soạn. Mình thấy có nhiều đoạn violin dồn dập khá hay. 3D or not 3D? Coi cái nào cũng đc, chẳng ảnh hưởng gì (chắc trừ túi tiền ra ) Ngoài ra, còn có một bộ film ngắn LAVA được chiếu trc Inside Out. Film ngắn này siêu dễ thương, nói về 2 ngọn núi lửa Uku & Lele Sneak peek đây nhé https://www.youtube.com/watch?v=GzZezqJ9VgI Lyrics: I have a dream, I hope will come true. That you're here with me, and I'm here with you. I wish that the earth, sea, the sky up above-a. Will send me someone to lava (love). Với mình, Inside Out xứng đáng được điểm 10. Mình không có gì để chê. Mình đoán khả năng được Best Animation của Academy Award là rất cao với Inside Out. After credit: ko chắc lắm vì ko ở lại hết. Nhưng vài chục giây sau khi hết film có 1 vài cảnh về các nhân vật emotions trong mỗi người.
  12. Phim mở đầu rất tốt, nhân vật tuy nhiều nhưng giới thiệu rõ ràng cùng flashback nên khán giả phổ thông cũng có thể nắm bắt được cho dù k có coi comic. Các nhân vật tỏa sáng gồm có Harley Queen, Deadshot và El Diablo (quên có cả thánh Sklipnot nữa, mem thứ 7 của JL cơ mà ), khổ xuât hiện ít nhưng đã thành 1 đề tài để đùa r). Các nhân vật khác tròn vai như Rick Flag, Entranchess (xinh quá :X), Amanda Waller, Capt. Boomerang và Killer Croc. Còn lại Katana khá mờ nhạt và... và... Joker. K phải nói là Jared diễn dở hay gì đâu cơ mà thực ra có thể bỏ hẳn vai này đi mà cũng chả ảnh hưởng gì đến mạch chính của phim, mục đích cho a vào cũng chỉ là để thả thính mà thôi. Còn hai cameo là Batman và Flash khá ấn tượng. Mạch phim tốt, hành động dàn trải, hài hước. Soundtrack toàn lựa bài hay nhưng đôi chỗ lồng nhạc k hay, còn theme và nhạc phim của phim cũng đc nhưng chắc k có đc ấn tượng như BvS. Phim đơn giản nhưng k quá đều đều, ngoài hành động với hài ra còn có vài đoạn tâm lý khá tốt. K có "deep và dark" nên khán giả cũng dễ coi hơn. Tuy nhiên cũng phải nói là phim bị cắt, các bạn hay coi trailer hay các clip khi coi xong phim này sẽ để ý thấy có nhiều đoạn k có trong phim, nhất là các cảnh của Joker với Harley. Nghe bảo ngoài cắt còn đổi thứ tự phim y hệt như BvS ấy. Cái này có phần đỡ hơn so với BvS khi k ảnh hưởng lắm tới mạch phim nhưng nói thật, sau cái này mình thực sự k muốn WB tác động quá nhiều vào các phim nữa, cá nhân mình k thích bỏ tiền ra để xem 1 sản phẩm bị cắt xén để rồi sau vài tháng xem lại bản đầy đủ. Cứ coi như SS này sát với BvS nên WB còn són chứ sang WW sang năm với JL mà cũng như này, thôi dẹp cmn DCEU luôn cho r, làm phim nào cũng cắt với xén xong ra bị ném gạch tạ đủ kiểu thì nghỉ. Phim này đánh boss khá chán, boss 2 ấy. Villain kỳ này k có ấn tượng gì cho lắm, cứ như kiểu Dr Doom trong F4 gần đây vậy, giới thiệu rõ ngầu xong.... Mà đoạn đánh boss 1 có cảnh mình thấy khá là... lên đỉnh chút, còn đoạn boss 2 mà không có kết cục như thế, có lẽ mình sẽ thích hơn (như nào thì xem nhé ). Về diễn xuất, Will Smith vẫn là Will Smith nhưng anh vẫn làm tốt vai trò của mình, không chỉ là 1 sát thủ mà còn là 1 người cha, Will vẫn không làm mình thất vọng. Viola Davis cũng vậy, thể hiện đc 1 A.Waller khá đáng sợ, lạnh lùng nhưng vẫn phải câm nín trước 1 nhân vật không bất ngờ nhưng mình sẽ không nói ở đây để dành phần bất ngờ đó cho các bạn ra rạp. Harley của M.Robbie nói sao nhỉ, đôi chỗ mình cảm thấy hơi làm quá, kiểu cố tỏ ra là điên vậy, nhưng có đoạn khá cảm động... Joker như đã nói ở trên, vai trò của Joker có lẽ k ảnh hưởng đến mạch chính của phim, và bỏ đi để đầu tư thêm cho mạch chính thì hay hơn. Jared diễn cũng được, mình không so với Ledger nhưng mình k ấn tượng lắm với Joker ở SS, kể cả có xuất hiện ít. Nhiều phim có những nhân vật k xuất hiện nhiều nhưng cực ấn tượng và mình nghĩ trong tương lai Joker mà cứ như này chắc... không ổn chút nào. Kiểu điên nó điên kiểu cố tỏ ra điên, và chốt lại đến thời điểm này Joker của Ledger vẫn top 1 (mình k phải fan của trilogy TDK của Nolan nhé ). Còn các nhân vật còn lại thì bình bình, tròn vai. Chốt hạ lại là phim này mình chấm 7/10, cộng thêm 1 là 8 do là fan của DC. À mà phim có mid-credit (là sau khi chạy hết đoạn giới thiệu cast và crew của phim, cảnh đó rất hype . Còn k có after credit nhé (sau khi chạy chữ xong là xong luôn)
  13. Kaze Tachinu - Gió nổi “Không thể hiểu sao đất nước này lại nghèo đói như vậy.” Đó là những dòng tâm sự của nhân vật chính Jirō Horikoshi khi chứng kiến cảnh hai đứa trẻ bồng bế nhau chờ bố mẹ về dưới ánh điện đường vàng vọt, đói khát nhưng quyết không nhận phần bánh mà anh sẻ chia. Lời tự vấn ấy dường như trở thành nguồn động lực cho hành trình xuyên suốt bộ phim của người kỹ sư, nghệ sĩ với đam mê rực cháy, với khát khao mãnh liệt làm hưng thịnh nước nhà như những gì anh hằng đau đáu qua công việc thiết kế máy bay. Đan xen trong đó, Miyazaki kể một câu chuyện tình đẹp mà đượm buồn giữa chàng kỹ sư trẻ với cô gái “hồng nhan bạc mệnh” Nahoko, đồng thời mở ra hình ảnh một đất nước Nhật Bản giữa hai cuộc chiến tranh nghèo nàn, lạc hậu, đói khổ, bệnh tật nhưng mỗi con người trong đó chưa bao giờ ngừng nỗ lực vươn lên, thoát khỏi sự tù túng. Áp phích phim. Ảnh: Toho Chàng nghệ sĩ với ước mơ nơi bầu trời Sinh thời, Jirō mang trong mình hoài bão được trở thành phi công, được lái những chiếc máy bay bay qua bao vùng miền hoang sơ của quê hương. Trường đoạn mở đầu bộ phim, với phong cách rất “Miyazaki” – chiếc phi cơ với tạo hình đặc biệt hệt như một cánh chim khổng lồ và phần động cơ hoạt động đôi chút hư cấu có thể bắt gặp trong các tác phẩm giả tưởng của ông như “Nausicaä của Thung lũng gió”, “Laputa: Lâu đài trên không trung” hay “Lâu đài di động của Howl” bay trên nền thiên nhiên được tuyệt mỹ hóa với những màu sắc và ánh sáng lung linh – đã cụ thể hóa ước mơ ấy của cậu, nhưng cũng cho ta biết rằng đó chỉ là một giấc mộng. Một giấc mộng thật đẹp, cứ ngỡ như chàng trai trẻ này chỉ sống cho mình nó vậy. Tuy nhiên, mộng mơ nào rồi cũng đến hồi thức giấc. Chứng cận thị ngày càng nặng khiến Jirō phải từ bỏ khát vọng được ngồi trên khoang lái và hướng ánh mắt về phía chân trời bao la. Dẫu vậy, khiếm khuyết về thể xác không thể ngăn cản được tâm hồn một mực gắn bó với những thiết kế diệu kỳ ấy của người nghệ sĩ nhí. Cậu tâm niệm mình sẽ trở thành một nhà sáng chế máy bay sau khi gặp Giovanni Caproni – kỹ sư hàng không nổi tiếng người Ý – trong những giấc mơ giao thoa của hai người. “Nghe này, cậu bé Nhật. Máy bay không phải là công cụ chiến tranh, cũng không phải một thứ hàng hóa. Máy bay là những giấc mơ đẹp. Và nhà thiết kế sẽ biến những giấc mơ đó thành hiện thực.” Jiro Horikoshi và Giovanni Caproni. Ảnh: Toho Gió nổi Đúng như tựa đề của bộ phim, gió là một nhân vật vô hình luôn đồng hành cùng Jirō suốt chặng đường đời. Gió tạo nên lực nâng khí động lực học nâng cánh máy bay, chở theo bao khát vọng xa xôi của chàng nghệ sĩ đang “băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời”. Gió thổi bay chiếc mũ mang cô gái trẻ đẹp Nahoko đến bên anh. Gió gây nên trận đại hỏa hoạn gắn kết hai người với nhau, cho cô hiểu thêm tấm lòng nghĩa hiệp của Jirō. Trong thời gian Jirō đi nghỉ ở Đức, gió một lần nữa đổi chiều làm chiếc dù lượn vòng trước khi rơi vào tầm tay anh, và cặp tài tử giai nhân gặp lại nhau sau mấy năm trời mất liên lạc. Gió lái chiếc máy bay giấy chàng gấp, gửi gắm tình yêu đến nàng, kết duyên cho đôi uyên ương. Khi những thiết kế của người kỹ sư trở thành đống sắt thép hoang tàn bởi thất bại của Nhật trong Thế chiến thứ hai, tất cả niềm tin vào cuộc sống trong anh biến mất, người bạn đời yêu dấu cũng rời xa anh đi về cõi vĩnh hằng vì căn bệnh hiểm nghèo. Nhưng gió thì không, trong giờ phút tuyệt vọng nhất của Jirō, hình ảnh Nahoko cưỡi trên cơn gió thoảng hiện về nhắc nhở anh phải sống lại thắp lên ngọn lửa hy vọng, làm hồi sinh những xúc cảm mãnh liệt sau mười năm tuổi trẻ phí hoài nơi anh. Như câu thơ của thi hào Pháp Paul Valéry: “Gió đã lên, hãy gắng sống kiếp này Gió xoay hướng, sách đời tôi mở đóng” Gió theo Jiro suốt chặng đường đời. Ảnh: Toho Đất nước của những Aristotle Kỹ sư hàng không Jirō Horikoshi sinh ra vào thời buổi chuyển giao của đất nước Nhật Bản. Câu chuyện trong phim tập trung vào giai đoạn từ thuở thiếu thời của Jirō đến khi Đế quốc Nhật thất bại và đầu hàng phe Đồng Minh, tức là khoảng từ sau Thế chiến thứ nhất đến khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Trong suốt gần 30 năm đó, sự khủng hoảng của nền kinh tế hậu chiến và thảm họa động đất Kanto đã kìm hãm sự phát triển của nước Nhật đến hai thập kỷ so với thế giới, mà cụ thể là Đế quốc Phát xít Đức, nơi Jirō cùng những kỹ sư khác đặt chân đến để học hỏi về công nghệ máy bay. Người bạn thân nhất và cũng là đồng nghiệp của anh – Honjo – đã ví von sự lạc hậu này với Nghịch lý “Achilles và con rùa”, theo đó: “Trong một cuộc chạy đua, người chạy nhanh nhất không bao giờ có thể bắt kịp được kẻ chậm nhất. Kể từ khi xuất phát, người đuổi theo trước hết phải đến được điểm mà kẻ bị đuổi bắt đầu chạy. Do đó, kẻ chạy chậm hơn luôn dẫn đầu”. Nhưng chưa đầy một trăm năm sau khi nghịch lý này được đưa ra, nó đã bị bác bỏ bằng những lập luận xác đáng của Aristotle. Chứng tỏ rằng việc Nhật Bản đuổi theo được Đức là điều hoàn toàn có thể, và nó đã xảy ra, Achilles đã bắt kịp, thậm chí là vượt qua con rùa. Sự thần kỳ ấy có được là nhờ tinh thần quật cường của người dân đất nước mặt trời mọc, mà ở đây Miyazaki đã mượn hình tượng Jirō Horikoshi để khắc họa và ngợi ca. Jiro làm việc như một chú ong thợ cần mẫn. Ảnh: Toho Jirō trong phim là một chàng trai tướng tá đạo mạo, khuôn mặt đầy suy tư “như phải gánh cả nền công nghệ máy bay Nhật Bản”, chất giọng “cao”, cách nói chuyện “không hoa mỹ, ít lời nhưng vẫn toát lên vẻ trí thức nhờ lựa chọn từ ngữ chỉn chu” (lời Miyazaki). Cũng chính chất giọng đặc biệt ấy của anh đã khiến vị đạo diễn 72 tuổi này phải điên đầu trong việc lựa chọn diễn viên lồng tiếng khi những cái tên đưa ra đều không thể đáp ứng được yêu cầu quá cao trên. Kết quả là một đạo diễn xuất chúng khác của xứ sở hoa anh đào đã được giao phó cho nhiệm vụ khó khăn này – Hideaki Anno. Và không để vị tiền bối phải thất vọng, Anno đã đem lại cho nhân vật Jirō Horikoshi một cái hồn rất riêng bằng cách thể hiện cảm xúc qua giọng nói tự nhiên, không quá gượng ép, luyến láy ở những đoạn đối thoại cần thiết, chất chứa cảm xúc nội tại của một chàng thanh niên đã chứng kiến và mang trong mình bao nỗi đau của dân tộc. Rõ ràng, Jirō Horikoshi là hiện thân cho con người Nhật Bản với tất cả những gì tinh túy nhất: sự chăm chỉ, cần lao, tinh thần nghĩa hiệp, yêu thương đồng loại nhưng cũng vô cùng mỏng manh, yếu đuối. Ngay từ nhỏ, Jirō đã có máu anh hùng khi sẵn sàng ra tay giúp đỡ những đứa trẻ bị bắt nạt để rồi mình mẩy xây xát. Lớn lên, tinh thần ấy vẫn còn nguyên, thậm chí còn trở thành một phản xạ có ý thức trong anh: anh không do dự nhường chỗ cho một người phụ nữ trên tàu, cõng người thị nữ của Nahoko về nhà mà không xưng tên, chia phần ăn của mình cho những đứa trẻ đói khát. Jirō làm việc như một chú ong thợ cần mẫn để chế tác nên công trình mơ ước cả đời mình – chiến đấu cơ Mitsubishi A6M ‘Zero’ – cũng như để khôi phục đất nước sau sự tàn phá ghê gớm của thiên nhiên. Khác với Honjo luôn ca thán về sự nghèo khó của Nhật, anh chỉ nín lặng nhìn và ngẫm nghĩ, mong muốn đóng góp sức mình “làm nên cái gì đó thật ấn tượng” (Câu nói này của Jirō Horikoshi ngoài đời cũng chính là nguồn cảm hứng để Miyazaki thực hiện bộ phim). Những con bò kéo phi cơ ra bãi thử vốn là nỗi hổ thẹn đối với Honjo cũng được Jirō trân trọng đến âu yếm ở lời trò chuyện cuối cùng (trong phim) với Nahoko. Dù học tập công nghệ của người Đức với những cỗ máy kim loại sáng loáng, anh vẫn giữ nguyên cái hồn Á Đông trong thiết kế của mình với hình dáng của chiếc xương cá thu mà anh luôn trầm trồ trong mỗi bữa ăn. Chiếc Zero oai hùng tung cánh bay trên bầu trời như một biểu tượng cho khát vọng tột bậc của người dân xứ hoa anh đào về một thành tựu lớn lao trên mảnh đất đã bao lần hứng chịu những thiên tai, những cơn đại địa chấn làm rung chuyển đất trời. Vì thế nên không khó hiểu khi tất cả các phi cơ ấy đều không trở lại, Jirō cũng chẳng còn động lực để sống tiếp nữa. Chiến đấu cơ Mitsubishi A6M ‘Zero’. Ảnh: Toho Miyazaki là một trong số không nhiều những nhà làm phim bắt đầu thực hiện tác phẩm của mình với một kịch bản chưa được định hình rõ ràng. Điều đó cho phép đạo diễn người Nhật được thỏa sức sáng tạo, phóng tác những tình tiết, những hé lộ tinh vi khi đã đắm mình hoàn toàn trong câu chuyện. Kiệt tác “Cuộc phiêu lưu của Chihiro vào thế giới linh hồn” của ông đã ra đời theo cách như vậy. Và đương nhiên, “Kaze Tachinu” cũng không phải ngoại lệ. Ban đầu, Miyazaki dự định kết thúc bộ phim với cái chết của Jirō, làm nên một câu chuyện mà “cuối cùng tất cả đều ra đi” như lời của nhà sản xuất Suzuki Toshio. Nhưng khi bộ phim gần hoàn tất ông đã thay đổi kịch bản, trong giấc mơ của Jirō, ở vương quốc Caproni, Nahoko đến cùng cơn gió và nói với anh rằng: “Hãy sống anh nhé (ikite)” thay vì “Hãy đến đây (kite)”, mang lại cho bộ phim một sắc thái tươi vui hơn hẳn, dù xét về tổng thể, đây vẫn là một tác phẩm lấy đi rất nhiều nước mắt của người xem, trong đó có cả cha đẻ của nó. Bộ phim gây day dứt bởi nó chứa đựng cơ man là dang dở: dang dở trong sự nghiệp, dang dở trong ước mơ và dang dở trong cả tình yêu của Jirō. Nahoko là một cô gái nhỏ nhắn, xinh đẹp, tươi vui, một tuyệt sắc giai nhân. Cô yêu thương Jirō bằng cả trái tim mình, sẵn sàng từ bỏ tất cả để được ở bên anh, giúp anh đạt được ước nguyện thời trai trẻ. Nếu như Jirō tượng trưng cho những đức tính đã làm nên hào khí trong con ngườI đất nước của các Samurai thì Nahoko như một đóa Mimosa khiêm nhường, thầm lặng, giàu đức hy sinh nơi người phụ nữ miền đất này. Bàn tay nắm chặt tay Jirō suốt đêm dài mỏi mệt, khuôn mặt vui vẻ gượng gạo nhờ phấn son hòng che giấu căn bệnh đang dần dà hủy hoại mình đã tiếp thêm sinh khí cho anh trong những tháng ngày khó khăn nhất. Tất cả vì tình yêu vô bờ đối với Jirō, tất cả để được nhìn ngắm anh trong niềm say mê vui thú với công việc, được ở bên anh trong quãng đời ngắn ngủi còn lại. Chính vì vậy mà sự ra đi của cô đã tạo nên một tông màu buồn đến não nề cho tác phẩm. Khoảnh khắc Nahoko bước ra khỏi căn nhà ông Kurokawa (cấp trên của Jirō, Jirō đã phải tạm lánh ở đây để trốn tránh chính quyền) và trở lại bệnh viện, không cần đến âm nhạc của Joe Hisaishi, tự thân nó đã là một nốt trầm làm nhói đau tất cả những ai đang mơ về một kết thúc có hậu cho hai người. Cứ thế, cô đến và đi qua cuộc đời anh như bao cơn gió khác, chỉ có điều cơn gió này khiến cho lòng anh xao xuyến khôn cùng, bởi nó “chỉ đến một lần, như mùa xuân chỉ có một tháng Năm” (Das gibt’s nur einmal – Werner Richard Heymann, một bài hát trong phim). Nahoko - một tuyệt sắc giai nhân. Ảnh: Toho Nahoko có lẽ cũng là cái nền để Miyazaki khắc họa nên khía cạnh “không hoàn thiện” trong con người Jirō, một nét rất đặc trưng ở hầu hết các nhân vật của ông. Người hâm mộ Ghibli hẳn còn nhớ bà chủ lò rèn Eboshi, một kẻ luôn mấp mé ở ranh giới thiện – ác trong “Công chúa Mononoke”. Dẫu không khắc nghiệt đến vậy nhưng Jirō trong “Kaze Tachinu” vẫn luôn bị giằng xé giữa việc theo đuổi nghiệp thiết kế và vun đắp tình yêu với Nahoko, giữa khát vọng cá nhân và tình cảm lứa đôi. Đam mê với những chiếc máy bay và việc chế tạo nên các công cụ giết người, lý tưởng cao đẹp và tội ác chiến tranh là hai điều khác mà anh càng không thể dứt khoát chọn lựa, khiến thâm tâm chàng thanh niên luôn phải tranh đấu dữ dội. Nó cũng đồng thời tạo nên những dang dở kia, từ đó xây dựng nên một chiều sâu ám ảnh cho tác phẩm cuối cùng của huyền thoại hoạt hình Nhật Bản Hayao Miyazaki. Nhưng nếu gạt tất cả những khuyết điểm trên sang một bên thì Jirō Horikoshi và Satomi Nahoko thật sự là những con người Nhật Bản đúng nghĩa mang tinh thần võ sĩ đạo và tấm lòng vị tha cao cả, những Aristotle đã chứng minh sai lầm của Zeno chúa trời khi đưa ra một nghịch lý hồ đồ, ai cũng thấy sai nhưng không phải ai cũng tìm được sơ hở để phản bác: một đất nước phải theo sau vì thiên tai và chiến tranh thì sẽ mãi đói nghèo, lạc hậu. Tác phẩm hiện thực mang tinh thần phản chiến sâu sắc “Kaze Tachinu” chứa đựng bao hồi ức tuổi thơ của Miyazaki. Bố ông là giám đốc xưởng máy bay tư nhân chuyên gia công bánh lái cho chiến đấu cơ Zero của Jirō Horikoshi. Căn bệnh lao mà Nahoko phải vật lộn chiến đấu cũng đã từng cướp đi người mẹ thân yêu của ông. Và kỹ sư hàng không Jirō Horikoshi đâu đó phải chăng là một sự tự họa bản thân của chính Miyazaki: đam mê nghề phi công nhưng do cận thị nên rẽ sang con đường nghệ thuật mà vẫn giữ lửa ước mơ? Như hàng triệu người dân Nhật Bản khác trong chiến tranh, ông cùng mẹ và anh trai không thoát khỏi số phận phải hứng chịu những trận oanh tạc làm “rực sáng cả một góc trời như thể hoàng hôn vừa buông xuống”. Bởi vậy mà những thước phim ta được chứng kiến trở nên sống động hơn bao giờ hết dưới bàn tay người con nước Nhật này. Những chiếc phi cơ từ tưởng tượng đến thực thể, từ nước Ý đến nước Đức, đến quê hương ông, từ chiếc G3M của Honjo đến chiếc A6M Zero, tất cả đều như những cỗ máy khổng lồ thực sự mà ta có thể nghe bên tai tiếng gió rít, tiếng động cơ ù ù ỏi inh. Đó là thành quả của những tham vọng Miyazaki đặt ra trong quá trình thực hiện bộ phim. Ông luôn trăn trở làm sao để có thể vẽ nên chiếc Zero, “chiếc Zero trong tưởng tượng của ông, mà mọi người có thể thấy được đường bay tuyệt mỹ” mỗi khi nó cất cánh trao liệng. Nhật Bản bại trận. Ảnh: Toho “Kaze Tachinu” mang màu sắc hiện thực kế thừa từ Isao Takahata – đồng nghiệp của Miyazaki ở Ghibli – nhưng vẫn còn nguyên vẹn cái chất mộng mơ mà ông luôn trung thành trong tất cả các tác phẩm trước đây của mình. Không đi sâu vào những đau thương của chiến tranh gây ám ảnh người xem như “Mộ đom đóm”, không mang nặng tính Biểu hiện như “Ngày hôm qua”, “Kaze Tachinu” tựa một bài thơ mộc mạc, giản dị mà hào hùng, đắng cay. Trận động đất Kanto 1923 đi vào trong phim với hình ảnh mặt đất rung chuyển dữ dội như có một làn sóng dưới sâu đang dần trỗi dậy, quét qua những khu nhà và đường tàu, khiến mọi thứ sụp đổ trong nháy mắt; hay xác những chiếc máy bay bị bắn hạ cháy đen thui khi Nhật bại trận ở cuối phim đủ khiến ta hình dung được sự khốc liệt của tự nhiên và chiến tranh mà không phải rùng mình khiếp sợ như những xác chết nằm la liệt bên đường trong bộ phim kinh điển năm 1988 của Takahata. Căn bệnh ho lao làm khốn đốn nước Nhật trong những năm 20, 30 của thế kỷ trước cũng không được đặc tả, mà đặt cạnh nụ cười hiền hậu, tươi vui của Nahoko, nó còn có phần trở nên thật nhẹ nhàng. Trận động đất Kanto 1923 qua nét vẽ của Miyazaki. Ảnh: Toho Jirō Horikoshi dù là một nhà thiết kế máy bay chiến đấu nhưng vẫn mang tâm hồn bay bổng, lãng mạn của trẻ thơ. Thế giới trong giấc mơ của anh và Caproni tồn tại là vì vậy. Một nơi mà Jirō có thể trốn tránh thực tại khổ đau, tìm đến với những niềm an ủi nhỏ nhoi, những giấc mơ không “bị nguyền rủa”. Một nơi mà “máy bay chỉ để chở khách chứ không phải chở bom”. Buồn thay, chàng trai trẻ sinh ra trong thời chiến, vì thế tài năng của anh bị lợi dụng vào những mục đích xấu xa thay vì đem đến niềm vui cho con người. Không thành công trong việc chế tạo máy bay tiêm kích, Jirō được giao nhiệm vụ chế tạo máy bay ném bom. Dù biết đó không phải điều tốt đẹp nhưng anh vẫn đón nhận, phần để thỏa mong ước từ thuở ấu thơ, phần để giúp sức nước nhà trong công cuộc phục hồi kinh tế. Anh lúc này thật đáng thương mà cũng thật đáng trách. Những cảm xúc về Jirō của Miyazaki vô cùng đa chiều, hệt như cảm xúc của ông đối với cha mình. Vị đạo diễn luôn cho rằng cha đã gián tiếp ủng hộ chiến tranh, nhưng ông lại giúp đỡ những người hàng xóm khi nhà họ cháy rụi và không còn trốn nương thân. Điều đó cũng dẫn đến việc một đạo diễn luôn phản đối chiến tranh kịch liệt như Miyazaki lại làm phim về một kỹ sư thiết kế máy bay chiến đấu, từ đó nhận được không ít chỉ trích của giới chính trị gia. Giá như chiến tranh chưa từng xảy ra, lý tưởng của Jirō Horikoshi chắc chắn sẽ trở thành sự thật. Giá như chiến tranh chưa từng xảy ra, cha của Miyazaki sẽ mãi là một người cha đáng kính, người cho ông nguồn cảm hứng lớn lao với những cỗ máy biết bay. Dẫu vậy, Miyazaki chưa một lần oán trách cha mình, như một sự thầm cảm ơn công sinh thành và dưỡng dục của ông. Sự tổng hòa của tất cả các yếu tố đã làm nên “thương hiệu” Miyazaki cũng như Ghibli Miyazaki chắc chắn là một trong những đạo diễn hoạt hình cầu toàn bậc nhất thế giới nói chung và Nhật Bản nói riêng. Không chỉ kiêm luôn công việc biên kịch và chỉ đạo, các bộ phim từ “Porco Rosso” trở về trước đều được ông vẽ tay hoàn toàn, “Công chúa Mononoke” chỉ sử dụng chút ít vi tính còn các bộ phim sau đó cũng không bao giờ rơi vào trường hợp lạm dụng quá nhiều công nghệ hiện đại, bao gồm cả “Kaze Tachinu”. Những đồng cỏ xanh tươi bất tận, dòng suối trong trẻo róc rách nơi cánh rừng ngút ngàn, những ngôi nhà với kiến trúc độc đáo đầu thế kỷ XX, những đầu máy xe lửa chạy than tỏa khói mịt mù hay cả chiếc Zero oai hùng bay lượn… không thể hiện lên chân thực đến vậy nếu không có sự đòi hỏi đến kiệt cùng của Miyazaki đối với các nhân viên cũng như chính bản thân mình. Các mảng màu tươi sáng vẫn được ông tận dụng một cách tối đa nhằm đem đến cho bộ phim vẻ lung linh tuyệt diệu, khiến ta đôi lúc quên đi mình đang ở vào một thời kỳ gian khó bậc nhất của đất nước mặt trời mọc. Thế giới lung linh sắc màu của Miyazaki. Ảnh: Toho Nhắc đến những thành công nghệ thuật của “Kaze Tachinu” mà quên mất âm nhạc của Joe Hisaishi thì quả là một thiếu sót to lớn. Nổi bật nhất có lẽ là bản “Tabiji”, gợi nhớ đến một bản nhạc rất nổi tiếng khác của ông trong “Lâu đài di động của Howl” – “The merry-go-round of life”. Cả hai đều đặc trưng cho phong cách âm nhạc mà Joe Hisaishi vẫn thường trình diễn trong các bộ phim của Hayao Miyazaki: sự hòa trộn giữa âm nhạc dân gian Nhật Bản, nhạc điện tử và nhạc cổ điển châu Âu. Nói không ngoa thì ta có thể bắt gặp cả hai vị Ryuichi Sakamoto và Beethoven trong các sáng tác của Joe. Đặc biệt hơn, ông biến tấu “Tabiji” với từng giai đoạn trong cuộc đời của Jirō, đem lại cho bộ phim nhiều sắc thái vui buồn khác nhau. Điều tương tự đã được Joe thực hiện với bản “Nahoko”, một bản nhạc nhẹ nhàng như chính con người nhân vật này. Các bản nhạc khác như “Nagare Boshi”, “Caproni”… hay bài hát chính thức “Hikōkigumo” cũng không kém phần đặc sắc, góp phần vào sự hoàn mỹ mà Miyazaki đã tạo nên trong suốt 126 phút phim. Vậy là sự nghiệp vĩ đại gần 50 năm của vua hoạt hình Nhật Bản Hayao Miyazaki đã kết thúc với một bộ phim có thể gói gọn trong hai chữ: “tuyệt phẩm”. Nếu coi cuộc đời làm phim của ông là một cuốn sách thì cái kết của cuốn sách ấy – “Kaze Tachinu” – là một dấu ba chấm khiến bao người hâm mộ xao xuyến, luyến tiếc khôn nguôi. Cũng phải thôi, bởi từng ấy năm sáng tạo nghệ thuật không ngừng nghỉ, Miyazaki đã xây dựng nên cả một vương quốc tràn ngập những giấc mơ, những mộng tưởng từng nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ trẻ em. Những người đã trưởng thành thì tìm đến vương quốc ấy để thấy mình được bé lại, tìm đến chốn an định trong cõi lòng để lại tiếp tục được ước mơ, những ước mơ của một thời trong trẻo, thơ ngây…
  14. Mang trong mình nhịp đập mới đầy tươi trẻ, phần VII Chiến tranh giữa các vì sao vẫn thu hút fan gạo cội nhờ sự kết hợp thuần thục lối làm phim cổ điển và công nghệ hình ảnh hiện đại. Star Wars VII: The Force Awakens (Chiến tranh giữa các vì sao VII: Thần lực thức tỉnh) không chỉ đóng vai trò của một tập phim kỷ niệm, mà còn là cầu nối để mang sử thi không gian oai hùng đến với khán giả đương đại. Phim như một lời tri ân được thế hệ đạo diễn mới như J.J.Abrams dành tặng cho “cây đa cây đề” như George Lucas; cũng như cái cách mà những người hùng trẻ trong phim bày tỏ lòng thành kính đối với các “tiền bối” Han Solo, Công chúa Leia Ornaga và Luke Skywalker. 30 năm kể từ sau ngày hiệp sĩ Jedi Luke Skywalker chiến thắng Chúa tể Darth Vader, thiên hà lại phải chống trọi với một hiểm họa mới. Sự vắng mặt của Luke tạo điều kiện để tổ chức The First Order trỗi dậy, tiếp bước Đế chế Thiên hà ngày trước trong công cuộc thôn tính vũ trụ. Đối mặt trước vũ khí mới có khả năng hủy diệt cả một hệ sao của chúng, phe Kháng chiến của Công chúa Leia phải nhờ cậy đến ba người hùng trẻ đầy tiềm năng Rey, Finn và Poe Dameron. Tuy nhiên, đầu quân cho The First Order lại là Kylo Ren, một kiếm sĩ đáng sợ mang tham vọng hoàn thành bá nghiệp của Vader ngày trước. Một chương truyện mới về tình yêu, lòng dũng cảm, Ánh sáng và Bóng tối chính thức bắt đầu. Finn, Rey và Poe – 3 người hùng của thế hệ mới Một trong những yếu tố khiến loạt phim Star Wars trở thành một hiện tượng điện ảnh khi ra mắt vào thập niên 70 chính là sự tiên phong trong việc sử dụng “practical effects”. Thay vì dùng kỹ xảo vi tính (visual effects) lúc này còn quá hạn chế để tạo nên những hình ảnh mà khán giả miễn cưỡng chấp nhận, đạo diễn George Lucas ưu tiên sử dụng mô hình được thiết kế trong nhiều giờ liền, kết hợp cùng những góc quay sáng tạo. Kết quả thu về được là những khung hình chiến tranh vũ trụ sinh động đến mức khán giả thời nay cũng phải xuýt xoa. Trung thành với lối làm phim này, phần VII của J.J.Abrams cũng chỉ dùng CGI để điểm tô đôi chỗ, tất cả những thứ còn lại: những vụ nổ, những cuộc rượt đuổi không khoan nhượng giữa chiến đấu cơ phe The First Order và con tàu lừng danh Millenium Falcon, những người ngoài hành tinh với đủ hình dáng và kích cỡ,… đều được tạo dựng ngoài đời thực. Những gì người xem được thấy trên màn ảnh cũng là những gì mà các diễn viên có thể tương tác, họ không đơn thuần là đứng múa may độc diễn trước màn xanh nữa. Với nhịp phim nhanh hơn hẳn so với sự từ tốn, chậm rãi của phần phim gốc, từng trận chiến bạo liệt của phần VII đủ hoành tráng đối với những khán giả đến rạp để giải trí, đồng thời không thiếu chất nghệ thuật để chiều lòng những “thượng đế” khó tính hơn. Chú robot bóng tròn BB-8 là ví dụ điển hình nhất của việc sử dụng practical effects Không chỉ là một tựa phim phô diễn trình độ dựng phim cao cấp, Star Wars VII còn là chương đầu cho một chuyến hành trình vĩ đại mới. Vừa là phần tiếp theo, phim còn phải mang “trọng trách” nặng nề như một phần reboot, nhằm giới thiệu thương hiệu điện ảnh “Chiến tranh giữa các vì sao” đến những khán giả còn xa lạ với loạt phim. Quyết định giới thiệu lại dàn diễn viên cũ khá sáng suốt, bởi nếu một tựa phim chỉ tập trung vào những cá nhân xinh đẹp, tươi mới mà không đoái hoài gì đến những cái tên gạo cội đã làm nên thành công cho Star Wars, thì dù có là người hâm mộ “cứng” đến đâu cũng không mấy mặn mà. Họ góp một phần quan trọng vào cuộc chiến mới chứ không đơn thuần chỉ là vai khách mời, như những người dẫn lối cho thế hệ trẻ từ ngoài đời thực cho đến trên màn ảnh. “Chewie, chúng ta đã về nhà rồi!” Người xem dễ dàng nhận ra nhiều nét tương đồng giữa phần phim mới và loạt tác phẩm cũ, khi những nhân vật trẻ cũng vào lại vai trò của các Luke, Leia, Han Solo ngày xưa. Giống như Thần lực luôn cuộn chảy và gắn bó mọi thể sống với nhau, bản thân hai thế hệ dù có xuất phát điểm, tính cách khác nhau, đều có những sự liên kết nhất định. Chính việc lạ mà quen này khiến phần VII tựa như một “buổi lễ tốt nghiệp”, nơi những người thầy gửi gắm ước mơ và hoài bão cả đời mình cho lớp tương lai tiếp bước. Kịch bản lôi cuốn, nhiều nút thắt bất ngờ, điểm trừ duy nhất của phim có lẽ chỉ có tuyến phản diện. Kylo Ren được xây dựng để trở thành kiểu nhân vật có quá khứ phức tạp, nhiều nội tâm, nhưng cách thể hiện một chiều của phim khiến hắn như một kẻ nông nổi, thiếu chính kiến và tự chủ. Bản thân diễn viên thủ vai là Adam Driver cũng có vẻ ngoài không ưa nhìn, khó tạo thiện cảm cho khán giả. Các phản diện phụ thì đúng là không thể…phụ hơn, khi họ không thực sự góp vài trò gì trong câu chuyện ngoài việc tỏ ra nguy hiểm. Dù sao, chi tiết này vẫn có thể cải thiện trong những phần sau. Kylo Ren có vẻ ngoài đáng sợ, cho đến khi anh ta…gỡ mặt nạ Chiến tranh giữa các vì sao là một thương hiệu điện ảnh hứa hẹn sẽ còn trường tồn dài lâu, và phần VII chỉ mới là tập đầu tiên cho loạt phim đầy hấp dẫn ra mắt những năm tiếp theo, Trước khi chờ đợi phần VIII, người xem có thể thưởng thức phần ngoại truyện mang tên Rogue One: A Star Wars Story, dự kiến ra mắt vào năm sau. http://molo.vn/review-phim-chien-tranh-giua-cac-vi-sao-vii/
  15. Bộ phim mang đề tài chiến tranh cho thấy “ông hoàng cháy nổ” Hollywood hoàn toàn có thể thực hiện những tác phẩm điện ảnh có sức nặng và chiều sâu hơn là “Transformers”. Năm 2011, Mỹ và các nước đồng minh tấn công Libya để lật đổ chế độ độc tài Muammar Gaddafi. Quốc gia Bắc Phi và nhất là Benghazi - thành phố lớn thứ hai ở Libya, bỗng trở thành nơi nguy hiểm nhất trên thế giới. Tuy nhiên, Mỹ vẫn quyết định giữ một tiền đồn ngoại giao và một căn cứ CIA bí mật tại đó. Một đoạn phim xúc phạm nhà tiên tri Mohammed khiến cộng đồng Hồi giáo phẫn nộ và tròn đúng 11 năm sau vụ khủng bố 11/9, các tay súng cực đoan bất ngờ tấn công vào hai địa điểm của Mỹ tại Benghazi. Bộ phim 13 Hours: The Secret Soldiers of Benghazi dựa trên những sự kiện có thật tại thành phố Benghazi, Libya hồi năm 2012. Ảnh: Paramount Khi lực lượng an ninh bản địa tháo chạy hết, các nhân viên CIA và tòa sứ quán phải tự mình chống cự lại những cuộc đột kích. Bộ phim 13 Hours: Secret Soldiers of Benghazi chính là câu chuyện có thật xoay quanh 13 giờ chiến đấu sinh tử của 6 người lính biệt kích Mỹ với nhiệm vụ bảo vệ tính mạng cho 28 nhân viên vốn chỉ quen với công việc bàn giấy. Sắm vai chính cựu lính thủy đánh bộ Jack trong phim là John Krasinski. Tài tử vốn quen thuộc với khán giả qua nhiều vai diễn hài hước nhẹ nhàng như trong License to Wed (2007) hay Aloha (2015). Song, ở 13 Hours, John Krasinski xuất hiện với cơ bắp cuồn cuộn, cùng đôi mắt hằn sâu vết thương tinh thần từ những cuộc giao chiến. Cũng nhờ kinh nghiệm diễn xuất trong dòng phim tình cảm, anh còn khắc họa được rõ nét tâm lý của một người lính phải sống xa gia đình. Tài tử John Krasinski có màn lột xác ấn tượng trong 13 Hours. Anh xuất hiện với cơ bắp cuồn cuộn, trái với nét hiền lành thường thấy ở các bộ phim hài hước. Ảnh: Paramount Hỗ trợ cho John Krasinski là một số nam diễn viên khác, chuyên trị dòng phim hành động, như Max Martini trong vai Oz, hay James Badge Dale trong vai Rone. Họ không gặp nhiều khó khăn trong việc tham gia một tác phẩm đầy kịch tính như 13 Hours. Ban đầu, bộ phim dành nhiều thời gian để giới thiệu cho người xem về thành phố Benghazi, các nhân vật chính, cùng hoạt động của CIA và tòa sứ quán, trước khi cuộc tấn công thực sự nổ ra. Thành phố Bắc Phi là nơi đầy rẫy cạm bẫy khi người dân cầm súng ra đường là chuyện bình thường. Có nhiều nhóm vũ trang khác nhau hoạt động tại Benghazi, mà khán giả không thể nhận biết ai là bạn, ai là thù. Chúng hoàn toàn có thể chặn xe một người bất kỳ, thậm chí nổ súng cho dù đối tượng kiểm tra là vô tội và không liên quan đến các hoạt động tình báo. Nhưng hoàn cảnh ấy cũng giúp sớm làm nổi bật lên sự gan lì và táo bạo của đội biệt kích do nhân vật Jack cầm đầu. Phải đến nửa phim, các tình tiết cao trào của 13 Hours mới lộ rõ và đẩy khán giả vào chuyến hành trình nghẹt thở. Ảnh: Paramount Khi cuộc tấn công của phiến quân vào tòa đại sứ nổ ra, nhịp phim diễn ra nhanh và dồn dập hơn. Những cảnh quay theo sát nhân vật với góc máy hẹp dễ giúp người xem cảm nhận được sự nguy hiểm và khẩn trương dành cho nhóm nhân vật. Đôi lúc, phim còn chuyển sang góc nhìn thứ nhất qua các ống ngắm hoặc kính nhìn đêm như trong các trò chơi bắn súng, đem tới cho khán giả cảm giác như đang ở chiến trường thực sự. Việc chuyển cảnh nhanh giữa nhiều mặt trận khác nhau cũng góp phần tăng thêm sự kịch tính, khiến khán giả hồi hộp và nín thở theo từng hành động của nhân vật. Đứng sau 13 Hours là Michael Bay, “ông hoàng cháy nổ” tại Hollywood, nên những cảnh đọ súng chính là điểm nhấn đáng chú ý nhất của tác phẩm. Khói bụi mịt mù, những tia đạn sáng lóa bay khắp nơi chỉ cách người vài cm, tiếng súng và pháo nổ cùng tiếng la hét xung quanh… Tất cả giúp công chúng dễ dàng cảm nhận tình cảnh “nghìn cân treo sợi tóc” và sự khốc liệt của chiến tranh. Giữa các đợt tấn công, Michael Bay còn chèn vào những khoảng lặng, để khán giả có cơ hội khám phá đời tư của từng thành viên trong đội biệt kích, cũng như được “xả hơi” sau nhiều màn đấu súng căng thẳng. Cuối cùng, thông điệp “kẻ thua cuộc trong chiến tranh luôn là người dân vô tội” được thể hiện rõ nét ở kết phim, tăng thêm sức nặng cho 13 Hours. Có thể nói, sau khi mải mê với loạt Transformers, Michael Bay đã có những bước tiến nhất định với 13 Hours: The Secret Soldiers of Benghazi. Điểm yếu lớn nhất của bộ phim là câu chuyện không có nhiều nút thắt và được kể có phần một chiều dưới góc nhìn của các điệp viên Mỹ. Hậu quả là toàn tác phẩm vẫn còn mang nặng tính tuyên truyền và lý tưởng hóa chính phủ Mỹ. 13 Hours: The Secret Soldiers of Benghazi (13 giờ: Lính ngầm Benghazi) đang được trình chiếu tại các rạp trên toàn quốc. http://news.zing.vn/13-gio-Linh-ngam-Benghazi--Tien-bo-tu-Michael-Bay-post627787.html
  16. DEADPOOL NON-SPOILER REVIEW (2016) Bài review này sẽ KHÔNG SPOIL một chi tiết nào ngoài những gì được show trong trailer nên bạn hãy an tâm mà xem nhá. *Bài review có tham khảo từ nhiều nguồn gồm Chris Stuckmann + Schmoesknow. Lưu ý: Đoạn mở đầu của bộ phim cực kỳ hài hước và sáng tạo, bạn nên đến rạp đúng giờ để xem được đoạn đó. Deadpool chỉ cần 5 giây mở đầu phim để khiến bạn mở miệng cười rồi. Còn after credit sẽ có 2 đoạn nhưng chúng xuất hiện liên tiếp nhau sau khi chạy hết chữ (Thứ tự: Phim hết -> Chạy chữ -> After credit 1 -> Banner tầm 5 giây -> After credit 2). Deadpool là một bộ phim mang đề tài trả thù và cũng là một bộ phim về đề tài tình yêu (cực kỳ nghiêm túc, thật sự là như thế) giữa hai nhân vật Deadpool và Vanessa. Deadpool là một bộ phim rất tuyệt vời, là bộ phim đã trả lại sự công bằng cho nhân vật Deadpool sau khi Fox khâu miệng của anh trong X-Men Origins: Wolverine. Theo mình được biết thì Deadpool đang nhận được review cả tốt lẫn tệ và điểm trên Rotten Tomatoes đang giảm dần đều. Sau khi xem xong thì mình nghĩ là Deadpool là bộ phim không dành cho mọi khán giả. Nếu bạn thích phim phải có chiều sâu như mấy phim viện hàn lâm để tranh Oscar thì bạn sẽ thấy Deadpool là một bộ phim rẻ tiền nhưng nếu bạn là fan comic nói chung và fan Deadpool nói riêng hay đang tìm một bộ phim để xem giải trí cuối tuần thì mình chắc chắn bạn sẽ hoàn toàn hài lòng với bộ phim này, cực kỳ hài lòng. Lâu lắm rồi mình mới xem được bộ phim khiến mình cười nhiều như thế, kịch bản phim thật sự rất hài hước và bẩn bựa. Bất cứ câu thoại, hành động, suy nghĩ xuất phát từ Deadpool đều có thể khiến bạn cười lăn lóc. Điều tuyệt nhất của kịch bản là nó canh đúng những thời điểm mà bạn không ngờ tới để tung ra các câu nói đùa rất hài hước, các điệu bộ cử chỉ cực kỳ “cộp mác Deadpool” hay các easter egg về các bộ phim và nhân vật khác, bạn sẽ bị bộ phim làm cho đi từ bất ngờ này tới bất ngờ khác. Nó cũng sắp xếp xen kẽ rất tốt các mốc thời điểm của cuộc đời Wade Wilson từ lúc anh mới lần đầu gặp Vanessa cho tới khi bị biến thành Deadpool cũng như nó gắn kết rất thông mình và chặt chẽ với các nhân vật khác trong vũ trụ X-Men của Fox. Bộ phim liên kết rất nhiều với các bộ phim X-Men khác đó. Mấy năm gần đây có rất là nhiều bộ phim siêu anh hùng, cứ vài tháng lại có một bộ phim SAH mới ra mắt. Và đa số các phim đó rất là tốt (và chúng ta cũng có Fantastic Four -_-). Nhưng Deadpool mạng lại cho bản thân mình một cảm giác rất khác về thể loại phim SAH. Cũng như trong comic, Deadpool tự nhận thức đươc bản thân mình là nhân vật trong truyện tranh thì ở đây là trong một bộ phim. Nhiều khi anh sẽ nói to nhiều điều mà khán giả đang suy nghĩ khi xem phim mà không dám nói ra. Deadpool phá vỡ bức tường thứ 4 rất là nhiều và chúng rất là hay, anh thậm chí còn lấy luôn rất nhiều đồ vật từ thế giới thật của chúng ta để mang vào bộ phim. Và anh không chỉ phá mỗi bức tường thứ 4, anh sẽ phá luôn bức tường thứ 16 (xem phim sẽ rõ). Tuy nhiên có khá nhiều câu nói đùa bẩn bựa chọc cười khán giả nhưng bạn chỉ thấy hài khi hiểu được tiếng Anh chứ khi dịch ra thì khá là dở và bộ phim cũng ám chỉ rất nhiều bộ phim khác và nhân vật khác mà nếu bạn chưa từng xem qua những bộ phim và nhân vật đó thì bạn sẽ không hiểu được tính châm biếm và mỉa mai của chúng. Đội ngũ marketing của Deadpool từng tung ra poster “True Love Never Dies” để đánh lừa khán giả và giúp các chàng trai có thể dụ bạn gái mình đi xem phim này vào dịp Valentine. Tin mừng cho các bạn là Deadpool thật sự là một bộ phim tình cảm (và chém giết máu me bẩn bựa). Cách họ xử lý mối tình giữa Wade và Vanessa thật sự rất tốt. Trước giờ mình thật sự không thích việc phim quá tập trung vào mối tình của SAH và nữ chính, nó thường được phát triển kiểu nửa vời không đi đến đâu (VD: Thor và Jane, Superman và Lois Lane), tuy nhiên có vài trường hợp ngoại lệ (VD: Cap và Peggy, Spider-Man và Gwen). Nhiều người xem trailer xong nghĩ rằng nhân vật Vanessa chỉ là một nhân vật được tạo ra để phụ vụ plot (tình tiết) của phim không hơn không kém. Không hề nhá, bạn thật sự sẽ cảm thấy được tình yêu mãnh liệt của họ và lý do tại sao Deadpool lại muốn trả thù những người đã khiến anh thành như thế tới như vậy. Bạn thật sự sẽ cổ vũ và mong muốn họ được ở bên nhau, có một happy ending như bao bộ phim tình cảm khác. Morena Baccarin đã thể hiện nhân vật Vanessa rất tốt. Một ví dụ để các bạn dễ hình dung là trong Spider-Man 3, Mary Jane cũng bị Venom bắt nhưng bạn sẽ cảm thấy yếu tố tình cảm giữa Peter và Mary Jane trong bộ phim đó rất tệ. Deadpool cũng có tình huống tương tự, Wade phải giải cứu Vanessa khỏi tay của Francis. Nhưng có lý do Vanessa là người phụ nữ mà một kẻ bệnh hoạn và bẩn bựa như Deadpool đem lòng yêu. Vì cô cũng là một đứa bẩn bựa nhưng cũng rất bad-ass và không hề bánh bèo như Mary Jane. Deadpool có thể xem là một trong số ít những bộ phim SAH được đầu tư rất tốt về yếu tố tình yêu. Nó được xử lý thông minh, thời lượng phim về các yếu tố ấy rất hợp lý, không hề chiếm quá lố thời lượng các yếu tố khác như hành động và hài hước. Mà nó kết hợp hài hòa đủ khiến bạn gái (hay “bạn trai”) bạn sẽ không giận dỗi khi bị bạn lừa đi xem phim Deadpool. Vì vậy mình cũng chọn poster “True Love Never Dies” cho bài review này vì nó rất là phù hợp với nội dung bộ phim. Francis được thể hiện bởi Ed Skrein. Bạn có thể biết anh ta qua phần phim mới nhất trong loạt phim Transporter và nó thì cực kỳ tệ. Màn trình diễn của Ed Skrein cũng tạm được, không hay cũng không dở. Phân nửa đầu phim nhân vật Francis được biên kịch phát triển khá là tốt, khiến bạn cũng căm ghét hắn như Deadpool. Nhưng trong phân nửa sau thì hơi chán, được xử lý khá qua loa. Bộ phim sử dụng rất nhiều CGI nhưng nó hoàn toàn không phải kiểu “phang” vô mặt bạn như mấy bộ phim Transformer. Nó được sử dụng rất hợp lý và thông minh khi kinh phí làm bộ phim chỉ cỡ 60tr $, rất thấp so với mấy bộ phim SAH khác. Colossus sẽ hoàn toàn được CGI từ đầu phim tới cuối phim chứ không phải muốn biến thành dạng thường hay dạng thép như mấy bộ phim X-Men trước đây Và nhân vật Colossus cũng lần đầu tiên được đối xử công bằng trên màn ảnh lớn so với mấy bộ phim khác. Bạn sẽ thấy được Colussus mạnh cỡ nào và bad-ass ra sao. Negasonic Teenage Warhead cũng được phát triển tốt, tuy nhiên mình đánh giá cao phần trình diễn của Colossus hơn. Có lẽ nhiều bạn băn khoăn nhất là Việt Nam sẽ cắt đi bao nhiêu cảnh hay của bộ phim. Sau khi mình xem xong thì biết được là phim bị cắt cảnh sex giữa Deadpool và Vanessa, cảnh máu me một viên xuyên táo ba người. Vài ba cảnh máu me khác thì họ zoom to màn hình lên để bạn không thấy được xác, não, nội tạng các thứ. Nhưng những cảnh đó không đáng kể lắm vì nó đã được show trong trailer. Phần còn lại thì mình thấy khá ok, khi xem phim ko có cảm giác “bạn biết cảnh đó đã bị cắt tan nát” (như 50 shades of shit), được xử lý lưu loát và trôi trảy, không bị cụt hứng. Nói chung bạn sẽ không bực bội cho lắm với những phần bị cắt và hoàn toàn có thể thưởng thức trọn vẹn bộ phim. IMDB: 9/10 Rotten Tomatoes: 80% (Critics) Điểm mình đánh giá: 9/10 Nguồn : https://goo.gl/iKMXmpv
  17. Trong giới điện ảnh đương đại, Quentin Tarantino được xem là một 'quái kiệt của những quái kiệt' với những bộ phim xuất chúng luôn giành được sự tán thưởng nhiệt liệt của giới chuyên môn. Tuy nhiên, tác phẩm tranh giải Oscar năm nay của ông, The Hateful Eight, lại không gây được ấn tượng mạnh mẽ như mong đợi. 'The Hateful Eight' là bộ phim mang phong cách đậm chất Quentin Tarantino - Ảnh: The Weinstein Company Vẻ đẹp quen thuộc của bạo lực Trong khoảng 6 năm trở lại đây, Quentin Tarantino luôn là cái tên gây được chú ý mạnh mẽ trong các buổi trao giải của Viện hàn lâm. Inglorious Basterds (2009) xoay quanh câu chuyện của những người lính nhận được đến 8 đề cử Oscar quan trọng, trong khi Django Unchained (2012) dù không đột phá bằng nhưng cũng “gom” được tới 5 đề cử của các hạng mục lớn, trong đó có cả Best Picture (Phim hay nhất). Tuy vậy, sự trở lại năm nay của Quentin Tarantino lại rốt cuộc không được hoành tráng như kỳ vọng, The Hateful Eight chỉ khiêm tốn nhận được 3 đề cử nhỏ: Nhạc phim xuất sắc nhất, Quay phim xuất sắc nhất và Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất. Thật khó có thể nói liệu đây có phải là một “sự xấu hổ” của Quentin Tarantino không bởi với cá tính khẳng khái cùng sự gai góc trong cách làm nghề của mình, ông không thường mấy quan tâm đến chuyện vinh danh. Giải thưởng với Quentin Tarantino giờ đây đã không còn quan trọng khi ông là người hiếm hoi sở hữu được hầu hết các giải thưởng danh giá trên thế giới như Oscar, Cành cọ vàng, Quả cầu vàng và cả giải BAFTA. Thế nhưng, cũng không thể phủ nhận việc The Hateful Eight bị hắt hủi là một dấu hiệu cho thấy ông “vua bạo lực” giờ đây đã đuối sức và đang dần đi vào lối mòn. Quentin Tarantino, kẻ bất chấp mọi quy tắc, hóa ra cũng có lúc lặp lại chính mình. Nếu tính Kill Bill Vol. 1 và Vol. 2 là một phim, thì The Hateful Eight là bộ phim thứ 8 của Tarantino. Câu chuyện xoay xung quanh một trận “chiến đấu” vừa im lặng vừa dữ dội, vừa ngầm ẩn vừa lộ thiên, vừa trí tuệ vừa bạo lực của 8 con người cùng ở chung trong một nhà nghỉ. Họ là những kẻ săn tiền thưởng, cảnh sát, đồ tể, cao bồi, và tất cả đều là những nhân vật có tiểu sử dày dặn, những câu chuyện nội tâm ẩn chứa và đầy rẫy những thủ đoạn đựng sẵn trong đầu. Sự chém giết, sát phạt lẫn nhau của họ là trung tâm chính của bộ phim và chính là cái nền cốt lõi giúp câu chuyện đi lên. Dù không được xem trọng tại Oscar, The Hateful Eight vẫn là bộ phim rất tuyệt vời - Ảnh: The Weinstein Company Ở The Hateful Eight, việc sử dụng bạo lực để mô tả vẻ đẹp của điện ảnh vẫn là một trong những ngón nghề chính của Tarantino. Những tình huống xoay chuyển bất ngờ không ai báo trước được, những hành động kỳ quặc, những câu thoại đắt giá, mọi thứ hoàn hảo đến từng chi tiết bổ trợ cho nhau một cách… vô lý khiến khán giả bị dẫn dắt đi tự ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Sự chuyển dịch khung hình hay tình huống câu chuyện một cách đột ngột, tức thời vốn được xem là "đặc sản" của Tarantino cũng được mang lại vào bộ phim khá dày. Và cũng chính vì thế mà bất cứ người hâm mộ nào sẵn yêu thích ông cũng đều nhận ra ngay tác giả của nó khi xem phim chứ không cần biết trước về thông tin hay xem phần credit cuối phim. Tuy vậy, chính việc tận dụng lại những ngón nghề cũ, cùng với việc tiếp tục theo đuổi phong cách cao bồi viễn Tây từ sau Django Unchained mà Quentin Tarantino đã không còn có thể gây ấn tượng với “dân sành” như lúc trước. Giới chuyên môn và người mộ điệu điện ảnh hầu hết đều có thể thấy được cái gì đó quen quen trong bộ phim này của ông chứ nó chưa thực sự là một “sự lột xác ngoạn mục” mà nhiều khán giả từng hi vọng. Có lẽ, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc “bế tắc” này là do Quentin Tarantino từng bị lộ kịch bản trước khi bấm máy vào năm ngoái. “Tôi chỉ đưa kịch bản cho 6 người xem, vậy mà một trong số họ đã phản bội tôi”, ông tức giận chia sẻ về thời điểm đó. Nên đã có lúc Tarantino quyết định thôi không làm The Hateful Eight nữa mà chuyển hẳn kịch bản đó thành… tiểu thuyết, nhưng rồi có lẽ tình yêu của quái kiệt ấy với điện ảnh vẫn lớn hơn nên ông quyết định sửa lại hoàn toàn câu chuyện để làm phim. Giây phút sai lầm có lẽ đã xảy ra ngay khúc đó, khi Tarantino quyết định chuyển hướng câu chuyện để rồi trở lại con đường cũ nhàm chán mà mình từng đi qua. Thế nhưng, dù sao đi chăng nữa, Quentin Tarantino vẫn là một bậc thầy rất đáng ngưỡng mộ. The Hateful Eight chỉ bị “chao đảo” giữa hai phạm trù tốt và xuất sắc, chứ nó hoàn toàn không thể bị xem là một bộ phim tầm thường. Bởi nó được làm ra dưới tay của một quái kiệt ở độ tuổi 53, người từng đi qua bao nhiêu thăm trầm, bạo lực, đẫm máu và sự ghê gớm của cuộc đời để có thể chắt lọc hết những điều gai góc, dữ dội ấy vào phim. The Hateful Eight cũng vậy, thấm đẫm chất hận thù, nhưng sâu bên trong và phía sau những câu thoại giằng xé, người ta vẫn nhìn và nghe thấy được một sự hóm hỉnh, hài hước của một nhà làm phim “lém lỉnh” và thích đùa. Cuối cùng, nó vẫn là tác phẩm đáng được vinh danh, bởi Quentin Tarantino từng chia sẻ, trong cuộc đời mình chắc ông chỉ làm trọn vẹn 10 phim thôi. Đây là bộ phim số 8, số 8 không hoàn hảo, nhưng vẫn là một số 8 rất tuyệt vời. Tiêu Nhiên http://thanhnien.vn/van-hoa/the-hateful-eight-so-8-khong-hoan-hao-cua-tarantino-660519.html
  18. Tác phẩm điện ảnh thắng giải Bông sen Bạc tại LHP Việt Nam 2015 đánh dấu sự trở lại của đạo diễn trẻ Đinh Tuấn Vũ. Phim lấy lòng người xem nhờ câu chuyện cảm động và đầy hoài niệm. Cuộc đời của Yến giống như cuốn hồi ký sống động về người phụ nữ Việt Nam năm xưa, khi lấy bối cảnh trải dài từ trước cho tới sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công. Phim mở đầu khi Yến bị sắp đặt lấy chồng lúc chỉ mới 10 tuổi, qua đó gián tiếp nói lên vấn nạn tảo hôn trong quá khứ. Cuộc đời của Yến kể lại những gian truân của nhân vật chính tên Yến trong cuộc sống khó khăn và mối hôn nhân sắp đặt từ thuở nhỏ với "ông giáo" Hạnh. Thế rồi, cuộc đời thăng trầm của cô Yến cùng mối quan hệ hôn nhân với “ông giáo” Hạnh cứ thế tiếp diễn, trải qua nhiều quãng thời gian lịch sử dân tộc. Biến cố xảy đến khi Hạnh bị vu oan giá họa ở hợp tác xã, khiến anh bỏ đi làm kinh tế mới. Bốn mẹ con Yến ở nhà ngày đêm ngóng trông trụ cột gia đình trở về, trong khi tin đồn “ông giáo” có vợ lẽ nơi phương xa cứ ngày một lan rộng. Với Cuộc đời của Yến, đạo diễn Đinh Tuấn Vũ thành công tái dựng bối cảnh lịch sử Việt Nam qua nhiều giai đoạn. Từng đạo cụ, khung cảnh, phục trang được nhà làm phim sinh năm 1987 cùng các cộng sự chuẩn bị công phu, tỉ mỉ. Nhờ đó, khán giả như được dung nhập vào không gian làng quê Bắc Bộ năm xưa, nơi còn đó nhiều hủ tục hay giá trị truyền thống chưa tàn phai. Những câu chuyện tưởng chừng chỉ còn trên sách vở nay được Đinh Tuấn Vũ kể lại trên màn ảnh đầy mộc mạc, chân chất và đẹp đẽ. Đạo diễn Đinh Tuấn Vũ thành công tái dựng hình ảnh miền Bắc Bộ Việt Nam qua nhiều thời kỳ khác nhau với câu chuyện đời cô Yến. Cũng bởi Đinh Tuấn Vũ là con trai Cục trưởng Cục Điện ảnh, giải thưởngNữ diễn viên xuất sắc tại Liên hoan phim Việt Nam 2015 của Thúy Hằng từng bị nhiều người đặt dấu hỏi, nhất là do khi ấy, Cuộc đời của Yến chưa được trình chiếu rộng rãi. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách công bằng, ngoại trừ phần đài từ còn thiếu sống động, Thúy Hằng đã thành công thể hiện vai diễn Yến lúc trưởng thành. Chị có đôi mắt như biết nói, biểu cảm tinh tế, không bị quá đà hoặc cứng nhắc, thể hiện thành công hình ảnh người phụ nữ tuy không biết chữ nhưng luôn luôn chịu thương, chịu khó, đảm đang và sẵn sàng nhẫn nhục vì chồng con. Đây có thể là mô-típ nhân vật cũ kỹ, nhưng nếu đặt vào bối cảnh thời gian câu chuyện lại là điều hoàn toàn hợp lý. Ban giám khảo LHP Việt Nam 2015 có lý khi trao giải cho Thúy Hằng. Chị thành công thuyết phục người xem về tính cách và tâm lý của nhân vật Yến thời trưởng thành. Từ cách Yến nghe lời chồng đến khi cô nghe tin đồn “ông giáo” Hạnh có vợ lẽ, hay tận mắt chứng kiến cuộc sống mới của chồng, nhân vật đều hành xử đoan trang. Cái tài của Thúy Hằng là thuyết phục được người xem đặt mình vào hoàn cảnh và tính cách của Yến, để họ chấp nhận cái cách mà nhân vật xử lý tình huống đầy nhân văn. Thêm một lần nữa, phải khẳng định rằng cách sống của Yến hoàn toàn phù hợp với suy nghĩ người phụ nữ còn phải gánh chịu nhiều khó khăn và bất công thời bấy giờ. Một điểm cộng khác của Cuộc đời của Yến đến từ phần nhạc phim da diết, thấm đẫm cảm xúc do Lê Cát Trọng Lý thực hiện. Đó là giai điệu của hai ca khúc Đi qua bóng đêm và Tám chữ có. Cứ mỗi lần ngân lên, chúng như tôn thêm nỗi đau mà các nhân vật phải trải qua trong câu chuyện. Tuy nhiên, cũng giống như Và anh sẽ trở lại - bộ phim trước của Đinh Tuấn Vũ, Cuộc đời của Yến còn mắc phải khuyết điểm chuyển cảnh chưa hợp lý và thiếu nhuần nhuyễn. Mạch phim ở đoạn giữa bỗng đột ngột tập trung hoàn toàn cho “ông giáo” Hạnh, khiến người xem cảm thấy có phần mất phương hướng về câu chuyện. Diễn xuất và thời lượng dành cho các giai đoạn tuổi chưa thực sự cân bằng, khiến phân đoạn thời thiếu niên yếu hơn hẳn so với hai giai đoạn còn lại. Cách giải quyết khúc mắc mà Đinh Tuấn Vũ lựa chọn cũng hơi đơn giản và diễn ra chóng vánh, khiến cuộc ngoại tình giữa “ông giáo” Hạnh và nhân vật Lanh không có được sức nặng để đối trọng với những gì cô Yến phải trải qua. Tại Liên hoan phim Việt Nam 2015, ngoài giải thưởng Bông sen Bạc, tác phẩm còn giành chiến thắng ở các hạng mục vốn là điểm mạnh của phim, như Nữ diễn viên chính, Âm nhạc, Quay phim và Thiết kế sản xuất.Chặng đường làm phim điện ảnh của Đinh Tuấn Vũ hẳn còn rất dài, và một tác phẩm đậm nét hoài cổ như Cuộc đời của Yến chính là bước tiến quan trọng đối với cá nhân anh. Cuộc đời của Yến hiện được trình chiếu tại các rạp trên toàn quốc. http://news.zing.vn/Cuoc-doi-cua-Yen--Su-hoai-co-dang-tran-trong-post618155.html
  19. The Revenant The Revenant là bộ film dựa trên câu chuyện có thật thông qua tiểu thuyết viết bởi Michael Punke. Dàn dv trong film gồm Leonardo DiCarprio, Tom Hardy, Domhnall Gleeson, etc. dưới sự chỉ đạo của đạo diễn Alejandro González Iñárritu cùng sự hợp tác của nhà quay film Emmanuel Lubezki. Bộ film nói về sự đấu tranh sinh tồn của Hugh Glass (Leo DiCaprio) khi bị bỏ rơi giữa thiên nhiên khắc nghiệt bởi ~ ng trong nhóm fur-trappers. Xin nhận xét đôi chút về cinematography của film. Emmanuel Lubezki là ng đảm nhận trách nhiệm quay bộ film này. Ông đoạt 2 giải Academy Award for Best Cinematography cho film Gravity và Birdman. Bộ film đc quay ngoài trời, dưới thời tiết khắc nghiệt vì muốn tận dụng ánh sáng tự nhiên nhiều nhất có thể. Những cảnh quay trong film phải nói là quá đẹp (chắc cũng 1 phần nhờ máy quay xịn 6.5K Arri Alexa 65). Mình đoán ông Lubezki sẽ đc hattrick cho giải oscar này. Diễn xuất của Leo trong film thì ko chê vào đâu đc. Tom Hardy cũng khá nổi bật. Mình đoán best actor năm nay chắc sẽ về tay Leo thôi. Đã bàn về acting với cinematography, giờ xin nói về nội dung film. Nói cho gọn thì film khá là brutal, máu me (nhất là cảnh đầu film). Có nhiều đoạn mà nhân vật Glass hồi tưởng lại chuyện quá khứ mình thật sự ko hiểu nó có ý nghĩa gì, với đoạn kết film nữa. Trình thưởng thức film nghệ thuật của mình vẫn còn khá hạn chế. Mình nghĩ bộ film này đáng được 8/10. Điểm trừ do đ' hiểu hết trọn vẹn film. Film cũng rất đáng để đi xem rạp vì những cảnh quay đẹp mê hồn của nó.
  20. The Hateful Eight (Roadshow version) Info The Hateful Eight is the 8th film by Quentin Tarantino. And I was fortunate enough to see its roadshow version which was filmed in "glorious 70mm Ultra Panavision." This offers a much better picture quality than normal 35mm film or digital. What is the differences of the roadshow version? The roadshow version includes an overture (basically a piece of music to set the mood for the audience) and an intermission. This may best answer the question. There is also a program booklet at the end of the show.(Credit: someone on the internet) Plot summary TH8 isn't a true western movie, rather a spaghetti western one, so don't expect to see a lot of horse chasing, shooting in vast, beautiful vista. I feel like it's a play with the haberdashery being the stage. Having said that, the 70mm film helps expand the audience's view so that they can observe other characters' action besides the ones in focus. I think while the plot is quite simple, what makes this movie interesting is its well written dialogues (one of Tino's trademarks). The acting is also equally good between the casts. To me, Walton Goggins who plays the sheriff steals the limelight. Jennifer Jason Leigh also performs fantastically even though she only has a supporting role. The 2nd part of the film after the intermission was a bit underwhelming compared to the 1st one. I feel it was a bit forced. I also love the snowy landscape shots. Seeing it in 70mm film was truly unforgettable. About the score: it was composed by the legendary Ennio Morricone and strangely to me, while the whole score was good, no track really stands out like some in Basterds. Overall, I'd rate this one 7/10 (with Basterds being a 10) because of the underwhelming 2nd half. Nudity, language & gore alert:
  21. Spotlight - Bức chân dung sống động về dân làm báo (Ảnh: IMDb) Ngược dòng thời gian trở về năm 2001, khi mà internet chưa có sức ảnh hưởng lớn lao đến đời sống con người như bây giờ, khi mà báo giấy vẫn còn là một nguồn thông tin trọng yếu đem các sự kiện toàn cầu đến mọi nhà, tác phẩm điện ảnh của đạo diễn Tom McCarthy cho người xem một cái nhìn chân thực về những người làm báo. Dựa trên sự kiện có thật về xì-căng-đan lạm dụng trẻ em của các mục sư trong hệ thống nhà thờ Công giáo ở Boston, Massachusetts, Mỹ, “Spotlight” lấy bối cảnh của một phòng tin tức điển hình những năm đầu thế kỷ XXI. Trong phim, ta có thể dễ dàng bắt gặp những chiếc máy tính đời cũ màn hình dày cộp chạy Windows 2000, ngồi trước đó là những biên tập viên bận rộn tra cứu thông tin, trực điện thoại, hay nghiên cứu tài liệu: một không gian luôn huyên náo bởi tiếng gõ bàn phím, tiếng bấm bút và tiếng đàm thoại của các nhân viên. Đã quen với phòng tin tức kiểu mới trong “The Newsroom” của Aaron Sorkin nên phải mất một lúc mình mới “thích nghi” được với khung cảnh tương đối lạ lẫm này. Tuy nhiên, thời gian chẳng thể thay đổi được cái cốt lõi của mọi thông tấn xã từ bao đời nay đó là sự nhộn nhịp, vận động không ngừng nghỉ và tâm huyết vô bờ bến của những con người trọn vẹn cống hiến tất cả cho nơi đây. (Ảnh: IMDb) Các nhân vật chính của phim là bốn nhà báo thuộc nhóm Spotlight, một nhóm chuyên điều tra các sự kiện của báo Boston Globe. Dấn thân vào vụ quấy rối trẻ vị thành niên của Mục sư Geoghan đã được che đậy rất kỹ càng bởi hệ thống nhà thờ, bốn người phát hiện ra một sự thật chấn động: trong vòng 30 năm đã có gần 90 mục sư ở Boston cũng từng gây ra các vụ việc tương tự đối với những đứa trẻ chỉ mới 12, 13 tuổi và cũng được nhà thờ chống đỡ để rồi thoát tội mà không ai hay biết, để rồi các nạn nhân của vụ việc phải tìm đến cái chết thương tâm trong sự tủi nhục. Những người sống sót dù đã trưởng thành cũng không thoát khỏi những sang chấn tâm lý mỗi khi nghĩ về ký ức kinh hoàng tuổi mới lớn. Nghiệt ngã thay, nhiều năm trước đây, khi các chứng cứ xác đáng đều bày ra trước mắt, chính Boston Globe là tòa soạn đã bỏ qua, không thèm đoái hoài đến vụ án. Nghiệt ngã thay, nhà báo dạn dày kinh nghiệm nhất và cũng là trưởng nhóm Spotlight lại chính là người đã làm ngơ khi những tài liệu về vụ việc được gửi đến đây. Để rồi giờ đây khi các chứng cứ đã bị vùi lấp, nhóm nhà báo phải lục tìm lại danh bạ của các mục sư, các mẩu tin cũ của những tòa soạn không tên tuổi hay gặp gỡ các luật sư đã giúp đỡ che dấu tội ác, gặp gỡ các nạn nhân, thậm chí bị chửi đuổi bởi thân nhân của họ vì đã khơi gợi lên trong tâm trí những đứa trẻ ngày nào nỗi ám ảnh kinh hoàng… Tất cả nhằm đưa vụ việc ra ánh sáng, tất cả nhằm đem đến cho người dân Boston nhận thức đúng đắn về hệ thống nhà thờ Công giáo đang ngày một suy đồi, nơi mà người người nhà nhà vẫn hằng tuần đến cầu nguyện, nhất là sau thảm họa 11 tháng 9 cùng năm. “Họ biết điều đó nhưng vẫn để nó xảy ra với những đứa trẻ. Đó đã có thể là tôi, đó đã có thể là anh, đó đã có thể là bất kỳ ai trong chúng ta.” (Ảnh: IMDb) Hội tụ một giàn diễn viên tên tuổi với diễn xuất vô cùng thuyết phục, không ngạc nhiên khi “Spotlight” đang làm mưa làm gió tại các liên hoan phim cũng như các lễ trao giải thưởng danh giá. Nổi bật nhất có lẽ là Mark Ruffalo trong vai một biên tập viên trẻ mới gia nhập Boston Globe cũng như Spotlight – Mike Rezendes. Mike có tài năng, có nhiệt huyết, đam mê với nghề nghiệp. Anh không quản ngại gian lao, sẵn sàng đáp ngay chuyến bay từ Florida về Boston sau khi đưa tin vụ 11 tháng 9 để truy cập những tài liệu mật đã được công khai về vụ án, hòng ngăn chặn nhà thờ trước khi phát giác và chôn vùi chúng lần nữa. Nhưng cũng như mọi nhà báo trẻ khác, anh quá hấp tấp và không lường trước được những hậu quả có thể xảy ra khi đưa tin vụ việc ấy một cách vội vàng. Mark Ruffalo đã có một màn hóa thân vô cùng xuất sắc, làm nên một Mike nông nổi, bồng bột nhưng cũng đầy tinh thần trách nhiệm. Anh đau đớn khi nhìn những đứa trẻ thơ ngây đến nhà thờ cầu nguyên, hát thánh ca mà không hay biết rằng mình có thể trở thành nạn nhân cho những tội ác nhẫn tâm. Đối nghịch hoàn toàn với Mike là Walter "Robby" Robinson – trưởng nhóm Spotlight và cũng là thành viên có thâm niên lâu nhất trong nhóm. Dù đã từng phạm phải sai lầm trong quá khứ nhưng không ai có thể phủ nhận ông là một nhà báo giỏi, từng trải, có kinh nghiệm sâu sắc. Chính kinh nghiệm của ông đã ngăn Mike hành động nông cạn và phá phỏng phóng sự, chính khinh nghiệm của ông đã giúp Spotlight chiến thắng và lật đổ toàn bộ hệ thống nhà thờ. Với nhân vật Robby, Michael Keaton lại một lần nữa chững minh cho thế giới thấy, ông không “chết chìm” cùng vai diễn Batman hơn hai thập kỷ trước như Riggan đã trải qua với Birdman trong tác phẩm hay nhất của Oscar năm 2015. Ở tuổi 64, Michael Keaton vẫn là một trong những diễn viên xuất chúng nhất của Hollywood hiện nay. Dàn diễn viên phụ tròn vai cũng là điểm sáng của “Spotlight”, đặc biệt là Rachel McAdams trong vai nữ nhà báo quả cảm, tận tâm Sacha Pfeiffer. Dẫu là phái yếu nhưng cô không bị lấn át bởi các đồng nghiệp mày râu, dẫu có lúc yếu mềm nhưng Sacha vẫn là một nhân tố quan trong quyết định sự thành bại của Spotlight. (Ảnh: IMDb) Không chỉ Mark Ruffalo mà đạo diễn, linh hồn của bộ phim, và đồng kịch bản Tom McCarthy cũng vụt sáng với tác phẩm tâm lý, tiểu sử này. Từng đóng nhiều vai phụ trong những bộ phim hài, bom tấn hay đạo diễn những bộ phim được đánh giá cao như "Win Win", "The Visitor", "The Station Agent"..., nhưng phải đến Spotlight, Tom McCarthy mới khẳng định được tài năng làm phim của mình với một trong những tác phẩm xuất sắc nhất năm 2015. Hy vọng trong tương lai, ta sẽ còn được chiêm ngưỡng những thành tựu lớn khác của ông. Tờ Time gọi “Spotlight” là “một thành tựu đầy cảm xúc” (an emotional tour de force), còn mình đơn giản cho rằng đây là bộ phim hay nhất của năm, một tác phẩm khắc họa sống động bức chân dung của các nhà báo – những con người không ngại hiểm nguy, đóng góp công sức đưa đến cho mọi người những thông tin bức thiết của xã hội. Đặt vào bối cảnh năm 2015 với nhiều vụ khủng bố dã man, hay những tổ chức cực đoan đã cướp đi sinh mạng của bao người trong đó có những nhà báo quả cảm đi tìm sự thật như vụ tấn công tòa soạn báo Charlie Hebdo làm chết 8 biên tập viên của tờ báo này, “Spotlight” như một bản anh hùng ca những chiến sĩ thầm lặng trên mặt trận tư tưởng ấy.
  22. Phim võ thuật Diệp Vấn 3 kể về cuộc đời sư phụ của Lý Tiểu Long vẫn giữ được phong độ qua những màn đối đầu mãn nhãn, cùng một kịch bản giàu tính nhân văn. Lấy bối cảnh Hồng Kông năm 1959, khi gia đình võ sư Diệp Vấn (Chân Tử Đan) đã ổn định sau đợt di cư đầy biến động. Trong thị trấn bỗng xuất hiện một băng côn đồ hạch sách trường học, khiến chân sư phải một lần nữa phải đứng lên bảo vệ những người dân vô tội. Phim còn có sự tham gia của cựu vô địch quyền anh Mike Tyson trong vai gã trùm ngoại quốc Frank. Mike Tyson trở thành kẻ đối đầu với Chân Tử Đan trong phần mới Được xem là phần cuối, nên một trong những tình tiết chính trong phim là việc “Đại tông sư” nhận Lý Tiểu Long làm đồ đệ. Khi bắt đầu dự án, nhiều nguồn tin xác thực rằng ngôi sao võ thuật quá cố sẽ được tái hiện hoàn toàn bằng công nghệ đồ họa vi tính – CGI. Điều này có vẻ bất khả thi, khi đến cả thủ pháp tương tự được sử dụng để tạo dựng khuôn mặt cho Paul Walker trong Furious 7 mà người xem vẫn nhận ra ranh giới thật – giả. May mắn thấy, cuối cùng hãng phim đã tìm được một diễn viên có hình thể cùng cấu trúc mặt tương đồng. Nam tài tử ấy không ai khác ngoài Trần Quốc Khôn, người từng thủ vai Tiểu Long trong loạt phim truyền hình The Legend of Bruce Lee (2008). Trần Quốc Khôn từng vào vai Lý Tiểu Long Với lối diễn diễn tự tin, diễn viên họ Trần nhanh chóng chiếm được cảm tình của khán giả, đặc biệt là các fan trung thành của Lý Tiểu Long vì thể hiện được khẩu khí ngang tàng của huyền thoại điện ảnh. Dù vậy, vai diễn của anh vẫn không vượt quá thời lượng của một vai khách mời. Trường hợp tương tự đối với vai diễn của Mike Tyson, khi nhân vật của anh tuy là đối trọng với Diệp Vấn nhưng tầm ảnh hưởng đến mạch truyện chính không nhiều, sau vài màn phô diễn kỹ năng đấm bốc đầy uy lực thì cũng mất dạng. Mối mâu thuẫn chính của phim thực ra xoay quanh mối quan hệ bạn – thù đầy phức tạp giữa Diệp Vấn và người đồng môn Trương Sanh (Trương Tấn). Cùng xuất thân từ Phật Sơn, nhưng số phận của cả hai vô cùng khác biệt. Diệp Vấn trở thành tôn sư được mọi người kính nể, còn Trương Sanh vì đến sau nên mọi cố gắng, nỗ lực đều bị các mặt báo phớt lờ. Có lẽ phải đến phần này, Diệp Vấn mới được chạm mặt với một đối thủ xứng tầm. Có lẽ để đánh bại một siêu nhân vô địch, cần đến một siêu nhân vô địch khác. Trái ngược hẳn với phong thái võ thuật điềm nhiên, tránh sát thương của Diệp tiên sinh, phương pháp chiến đấu của nhân vật này tàn bạo, thực dụng hơn. Điều này khiến người xem có được cái nhìn trực quan hơn về Vịnh Xuân – một môn võ thường bị mặc định là chỉ dùng để phòng vệ. Một cách đầy ẩn ý, hình bóng cùng từng mảng tính cách của Lý Tiểu Long có thể dễ dàng được cảm nhận rất rõ trong hai vị đại cao thủ này. Trương Tấn Góp phần bổ sung vào hệ thống những đòn quyền cước bạo liệt, nghẹt thở; ngoài món boxing của Mike Tyson ra còn có Muay Thái. Trong một trường đoạn căng thẳng của phim, Diệp Vấn phải đối đầu với một cao thủ đến từ Thái Lan. Không tản mác với hàng loạt môn phái như phần hai, cũng không đề cao đến hư cấu sự hữu dụng của Vịnh Xuân, phần ba khai thác đồng đều ưu – khuyết của mỗi tuyệt học cận chiến. Phần hình ảnh vì thế vẫn không phụ lòng những tín đồ đam mê võ học. Nhưng Diệp Vấn 3 (Ip Man 3) không phải là một tựa phim hành động thuần túy xem xong rồi quên. Điều khiến Diệp Vấn 3 nổi bật so với các “siêu anh hùng hành động” khác, chính là những triết lý nhân sinh sâu sắc mà ông theo đuổi cả đời, cùng tình yêu thương thầm lặng dành cho gia đình. Một kẻ sĩ đầu đội trời chân đạp đất, lại dám tự nhận mình sai trước vợ, dám quỳ gối trước lũ hèn nhát để cứu con trai; đó là kiểu tình thương thầm lặng không bao giờ cần huyên thuyên của những người hùng thật sự. Cốt truyện lần này tập trung nhiều vào cảm xúc hơn là các pha hành động, dễ khiến người xem động lòng trước những cử chỉ ngọt ngào, ý nhị nhưng không sáo mòn mà Diệp Vấn dành cho người vợ xinh đẹp Trương Vĩnh Thành. Điểm trừ duy nhất của phim có vẻ là do sở hữu một cái kết khá cụt, khi trước đó phim mở ra hàng loạt tuyến truyện phụ, nhưng sau đó thì hoàn toàn biến mất nhường chỗ cho “trận chiến cuối cùng”. Nhiều fan có lẽ cũng sẽ thất vọng, khi mối dây liên kết thầy trò giữa Diệp Vấn- Lý Tiểu Long chưa được làm rõ, người xem cũng không có dịp nhìn thấy cặp sư phụ – đệ tử đối lưng vào nhau để đối đầu một kẻ thù chung. Phim cũng là lời tri ân, lời cảm ơn chân thành nhất của đoàn làm phim dành cho người hâm mộ đã yêu mến và theo dõi câu chuyện đầy thú vị này. Nếu không có gì thay đổi từ phía nhà sản xuất, Diệp Vấn 3 sẽ là phần cuối cùng trong “thiên truyện” về vị võ sư tài danh. Hài hòa giữa các pha hành động và những khoảng lặng buồn, tác phẩm là một cái kết xứng đáng dành cho Vịnh Xuân Diệp Vấn – huyền thoại của những huyền thoại. http://molo.vn/review-phim-diep-van-3/
  23. 10. 5 Centimeters Per Second – 5 Centimét/giây (Đạo diễn: Shinkai Makoto, 2007) Anime có thể mở ra cánh cổng của thế giới kì ảo – nơi phép màu và những thế lực siêu nhiên cùng tồn tại, nhưng không phải bất cứ anime nào cũng mời gọi người xem bước vào thế giới giả tưởng ấy. 5 Centimét/giây chính là một câu chuyện thực tế đến tàn nhẫn, tuy nhiên đây cũng là điều khiến nó trở nên thật đặc biệt. Được công chiếu lần đầu vào tháng 3 năm 2007, 5 Centimét/giây đã giành được giải Phim hoạt hình xuất sắc nhất tại lễ trao giải điện ảnh châu Á Thái Bình Dương và Giải bạch kim lớn Lancia tại Liên hoan phim chủ đề tương lai cho phim có hình ảnh và hiệu ứng xuất sắc nhất. “Cậu biết không, 5 Centimét/giây chính là vận tốc cánh hoa anh đào rơi...” Đôi bạn Takaki và Akari phải chia tay nhau khi sắp tốt nghiệp tiểu học. Cả hai giữ liên lạc bằng cách viết thư, nhưng những cánh thư cũng ngày một thưa dần theo thời gian. Khi Takaki biết mình cũng sắp chuyển đến Kagoshima. cậu quyết định tự mình đi tàu đến thăm Akari vì sau này khoảng cách giữa hai người sẽ càng xa hơn. Takaki vượt qua cơn bão tuyết để đến nơi Akari ngồi đợi cậu. Họ trao nhau nụ hôn đầu tiên dưới gốc cây anh đào. Takaki lớn lên, thu mình vào thế giới riêng với những hồi ức về mối tình đầu. Mãi sau, anh cũng có bạn gái, nhưng trái tim và thể xác vẫn ngày một héo mòn vì nỗi nhớ. Khi Akari sắp kết hôn, cô tìm thấy bức thư định gửi cho Takaki mà chưa thể. Cuối phim, lúc đi ngang đường ray xe lửa, Takaki lướt qua một cô gái, linh tính mách bảo anh đó là Akari. Thế nhưng khi Takaki quay đầu lại, đoàn tàu đã chia cắt hai người. Cô gái ấy đã biến mất chỉ để lại Takaki ngơ ngác giữa những cánh hoa đào rơi lả tả. Cuối cùng Takaki mỉm cười và bước đi, gánh nặng hồi ức đè nặng lòng anh bấy lâu cũng tan biến. Mỗi khung hình trong phim đều đẹp như một giấc mơ Giống như các tác phẩm của Shinkai Makoto, 5 Centimét/giây làm người ta choáng ngợp bởi vẻ buồn lộng lẫy thể hiện qua từng màn ảnh. Cách ông đặt góc máy xa, thu vào tầm nhìn toàn bộ không gian và ánh sáng, phối hợp cùng lời tự sự của nhân vật, càng khiến cho nỗi cô đơn như ứa tràn. Tồn tại giữa khung cảnh và sắc màu diễm lệ như một giấc mơ ấy, lại là một câu chuyện chân thực đến lạnh lùng. Tình yêu đẹp đẽ thuần khiết của Takaki và Akari bị chia cắt đâu chỉ bằng không gian, mà bắt nguồn từ những khoảng trống trong trái tim họ. Cả hai không gửi thư, nhưng lại vô thức chờ đợi cánh thư từ đối phương. Takaki trưởng thành nhưng một phần trái tim đã mắc kẹt trong những hồi ức, mặc dù anh hiểu rất rõ một sự thật: “Dẫu cho có gửi đi hàng ngàn tin nhắn, thì trái tim của chúng ta cũng chẳng thể kéo gần lại một li”. Hai lần hình ảnh đoàn tàu xuất hiện ở đầu và cuối phim: một lần tàu đi qua và họ gặp nhau, một lần Takaki quay lại thì cô gái mà anh cho là Akari đã biến mất. Đoàn tàu đó tượng trưng cho cuộc sống, mang chúng ta đến gần rồi lại chia xa. 5 Centimét/giây khiến cho nhiều người phải thốt lên: sao lại có một câu chuyện vừa đơn giản lại vừa tàn nhẫn đến thế! Không còn những yếu tố kỳ ảo hay khoa học viễn tưởng, lần này Shinkai Makoto đã đặt người xem vào một cảnh trong mơ, nhưng lại thành công giữ họ luôn tỉnh thức. 5 Centimét/giây không chỉ là vận tốc của cánh hoa rơi, mà còn là vận tốc để chúng ta lướt qua đời nhau. Cuối cùng, chỉ còn một mình Takaki đứng giữa khung cảnh của mùa xuân, những cánh hoa như mảnh vỡ của một giấc mơ đã bị hiện thực nghiền nát. Có những thứ cho dù cố truy cầu cũng không bao giờ tìm thấy được. Mà điều duy nhất chúng ta có thể làm, đó là kiên định và lạc quan để tiếp tục tiến về phía trước. 9. Millennium Actress – Nữ Diễn Viên Ngàn Năm (Đạo diễn: Kon Satoshi, 2001) Nữ Diễn Viên Ngàn Năm – hay một cuộc tìm kiếm ngàn năm, là câu chuyện hồi ức về cuộc hành trình gian truân của nữ minh tinh Chiyoko để gặp lại người đàn ông bà đã yêu suốt cuộc đời. Chàng họa sĩ đã để lại cho cô bé chiếc chìa khóa giữ một điều rất quan trọng trước khi biến mất. Kể từ đó, vật kỉ niệm nhỏ bé này trở thành biểu tượng cho niềm hi vọng và chờ đợi của cả đời Chiyoko. Cô đã từ bỏ cuộc sống bình lặng, lao vào điện ảnh để tìm kiếm chàng trai mình chẳng còn nhớ rõ mặt. Kì diệu thay mỗi vai diễn của Chiyoko lại như chính cuộc đời cô – luôn là một chuỗi các cuộc đấu tranh và kiếm tìm. Tình yêu hư ảo thuở thiếu thời cuối cùng đã đưa Chiyoko lên đỉnh cao của sự nghiệp, giúp cô trưởng thành với niềm vui lặng lẽ được hóa thân, được tả lại nỗi nhớ thương và khao khát qua từng nhân vật. Trải qua nhiều sóng gió, vinh quang và cả đổ vỡ, cô bé Chiyoko ngày nào giờ đã trở thành một bà lão tóc bạc trắng, bình thản kể lại câu chuyện của chính mình với một nụ cười: “Tôi đã quên mất người đàn ông ấy trông như thế nào, thế nhưng tôi vẫn còn yêu anh ấy...”. Chiếc chìa khóa đã mở cánh cửa số phận của Chiyoko Rốt cuộc tìm kiếm để được gì? – là câu sẽ đọng lại trong lòng khán giả khi xem phim. Chiyoko không hề lãng phí những năm tháng thanh xuân chỉ để đuổi theo một thứ tình yêu không hình hài, cô đã dùng hi vọng và nỗi nhớ đốt lên khao khát được chinh phục mọi thử thách. Và chiếc chìa khóa kia hoàn thành nhiệm vụ của nó vượt cả mức mong đợi. Nếu như người họa sĩ năm nào không gieo vào lòng cô bé Chiyoko một rung động đầu đời, thì có lẽ cô cũng chắc khác gì lời mẹ mình nói, như hết thảy các cô gái khác trong cuộc chiến tranh ngày ấy: “Thừa kế cửa tiệm, lấy một ông chồng và sinh những đứa con, sống như vậy cho đến lúc chết”. Tôi chẳng còn là tôi mà người đó từng biết, tôi không muốn anh ấy thấy hình dáng già yếu của mình. Thành công của phim phải nhắc đến lối kể chuyện đan xen quá khứ - hiện tại, đời thực – vai diễn tạo nên ảo giác bất phân giữa những thước phim, khiến tình tiết sinh động hơn rất nhiều. Dưới bàn tay bậc thầy của đạo diễn Kon Satoshi, những mảnh ghép này được tháo ráp một cách ngẫu hứng sáng tạo, tiết tấu phim lúc nhanh lúc chậm, nhưng tổng thể vẫn giữ được sự logic và cuốn hút người xem vào dòng cảm xúc mãnh liệt của nhân vật. Thiết kế phim có xu hướng nghiêng về tả thực, trau chuốt đến từng chi tiết nhỏ, chủ yếu sử dụng tông màu trầm. Nét vẽ mượt mà, uyển chuyển, biểu cảm của các nhân vật được diễn tả rất chân thực. Thông qua những vai diễn của Chiyoko, phim đã tái hiện thành công cả những góc cạnh của lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng Nhật Bản. Tại Lễ hội Nghệ thuật Truyền thông Nhật Bản, Nữ Diễn Viên Ngàn Năm giành được Danh hiệu lớn dành cho thể loại phim hoạt hình, đồng hạng với Spirited Away (Vùng Đất Linh Hồn). Phim cũng giành 4 đề cử tại giải Annie năm 2004 trong đó có hạng mục Đạo diễn và Kịch bản, trở thành một trong những biểu tượng đỉnh cao của hoạt hình Nhật Bản. “Bởi vì người mà tôi thích, chính là bản thân mình khi đuổi theo anh ấy.” – Chiyoko bình thản thừa nhận điều đó. Người đàn ông cô yêu từ lâu đã không còn trên cõi đời này, nhưng người ấy vẫn mãi mãi tồn tại trong tim Chiyoko, thúc đẩy cô tiến lên trên con đường tìm kiếm chính bản thân mình, tìm kiếm số phận thật sự. Nữ Diễn Viên Ngàn Năm không hề cổ xúy khán giả vì tình ái mà bất chấp tất cả mà ngược lại, phải dùng ái tình như một động lực để đạt được mọi điều tốt đẹp trong cuộc sống. 8. Tokyo Godfathers – Những Người Đỡ Đầu Ở Tokyo (Đạo diễn: Kon Satoshi, 2003) Điều thú vị là xếp trên anime Nữ Diễn Viên Ngàn Năm lại chính là người em cùng cha của nó -Những Người Đỡ Đầu Ở Tokyo. Đây là phim thứ ba mà Kon Satoshi viết kịch bản và đạo diễn, cùng soạn kịch bản với ông là Nobumoto Keiko người từng được biết tới qua series Cowboy Bebop. Tuy lấy bối cảnh Nhật Bản, Những Người Đỡ Đầu Ở Tokyo lại mang hơi hướng của hoạt hình Mỹ nên đã được đón nhận rộng rãi ở nhiều nước phương Tây. Nội dung phim hài hước, thú vị nhưng vẫn ấm áp tính nhân văn, chắc chắn là một anime phù hợp để xem vào dịp cuối năm khi lễ giáng sinh và giao thừa đã gần kề. Bộ ba gàn dở: Hana, Miyuki và Gin Vào đêm giáng sinh, ba kẻ vô gia cư – lão già Gin nghiện rượu, phụ nữ chuyển giới Hana và cô bé bỏ nhà ra đi Miyuki đã vô tình tìm được một em bé sơ sinh khi tất cả đang lục lọi thùng rác. Hana không thể sinh con nên đã đặt tên đứa trẻ là Kiyoko và muốn giữ lại nuôi dưỡng nhưng hai người kia đều phản đối. Cuối cùng, bằng manh mối mơ hồ là danh thiếp của quán bar và ảnh chụp ở gần tã lót của Kiyoko, họ quyết định giúp nó tìm lại bố mẹ. Ba kẻ gàn dở từng bị xã hội vứt bỏ, nay lại hết lòng tìm kiếm gia đình cho một đứa trẻ bị vứt bỏ. Lòng hảo tâm của cả ba khiến họ trải qua cuộc phiêu lưu kỳ thú trong đêm giáng sinh, giải đáp được khúc mắc về thân thế không ngờ của đứa bé, đồng thời nhận lại món quà kì diệu cho bản thân mình. Đứa bé mang đến biến cố và phép màu trong đêm giáng sinh Có vẻ phần lớn những người hâm mộ mô típ đẹp lãng mạn của hoạt hình Nhật Bản bước đầu sẽ khó mà chấp nhận Những Người Đỡ Đầu Ở Tokyo. Ba nhân vật chính của câu chuyện không chỉ có ngoại hình xấu xí mà xuất thân cũng vô cùng quái dị. Thế nhưng một khi đã xem, bạn sẽ nhận ra bản thân đã yêu mến họ từ lúc nào. Lão Gin vì rượu chè cờ bạc mà từng bỏ rơi vợ con, sau đó chẳng còn mặt mũi trở về nhà. Cô bé Miyuki đanh đá nhảy khỏi xe lửa để trốn tránh cha mình do đã lỡ tay đâm ông bị thương. Và đặc biệt, Hana - một người chuyển giới từng giả gái nhảy múa ở các hộp đêm – là nhân vật khắc họa đặc sắc nhất, vừa hài hước vừa giàu tình thương. “Tao sẽ hỏi mẹ của đứa bé vì sao lại vứt bỏ nó; nếu như câu trả lời của cô ta hợp tình hợp lý, tao cũng sẽ tha thứ cho mẹ của mình” – câu nói của Hana quả thực khiến cho người nghe phải thay cô chua xót. Những Người Đỡ Đầu Ở Tokyo là bức tranh hiện thực phản ánh phần đáy xã hội Nhật Bản. Những con người lang thang trong đêm giáng sinh, lục lọi thùng rác và bản thân họ cũng nghĩ mình là rác. Bằng việc khắc họa các nhân vật xấu xí khốn khổ, phim đã đề cao bản tính thiện lương, thắp sáng chủ nghĩa nhân đạo. Hana luôn miệng nói: “Thượng đế yêu thương đứa bé này”, nghe như là đang nói cho bản thân. Tin tưởng vào tình thương của thượng đế, tin tưởng vào con người, nhất định sẽ có ngày đạt được kỳ tích, nhận được món quà giáng sinh tuyệt vời của mình. 7. Wolf Children – Những Đứa Con Của Sói ( Đạo diễn: Hosoda Mamoru, 2012) Những Đứa Con Của Sói là câu truyện cổ tích tuyệt vời về một gia đình nhỏ ấn giấu một bí mật lớn. Mọi việc bắt đầu khi cô sinh viên 19 tuổi Hana đem lòng yêu thương gã người sói Ookami lạnh lùng cô độc. Tình yêu của họ đơm hoa kết trái và hai thiên thần nhỏ Yuki và Ame ra đời. Cuộc sống của bốn người sẽ bình yên và hoàn hảo biết mấy nếu như Ookami không đột ngột qua đời. Hana phải nhanh chóng vượt qua nỗi đau vì hai đứa con thơ còn cần chăm sóc. Nuôi nấng một đứa trẻ chưa bao giờ dễ dàng. Mọi chuyện càng phức tạp hơn, khi một người mẹ trẻ đơn thân như Hana lại phải nuôi dưỡng hai đứa con người sói. Bằng tình mẫu tử vĩ đại, Hana đã chăm sóc Yuki và Ame lớn lên khỏe mạnh. Không chỉ có vậy, tấm lòng của cô còn giúp chúng tìm thấy chính mình, lựa chọn tương lai thích hợp nhất cho bản thân. Tình tiết phim trải dài từ lúc Hana và Ookami mới gặp nhau cho đến khi hai đứa trẻ con của họ trưởng thành. Trong suốt quá trình ấy, hình ảnh người mẹ được khắc họa rất dịu dàng mà kiên cường: khi con ốm lại phân vân không biết nên đưa đến bác sĩ khoa nhi hay khoa thú y, và rồi tự mình nghiên cứu tìm ra cách thích hợp nhất để chứa trị; có những đêm hai chị em biến thành sói rồi hú vang kinh động đến hàng xóm... Khổ sở vì phải che giấu bí mật của bọn trẻ giữa Tokyo, Hana quyết định dọn về miền núi, nơi Yuki và Ame có thể tự do sống giữa thiên nhiên và tránh được ánh mắt soi mói của người đời. Khoảng thời gian nuôi con cũng là quá trình học hỏi không ngừng của Hana. Cô nhẫn nại chăm nom, vừa bảo vệ chúng khỏi hiểm nguy vừa dạy chúng tiếp thu thế giới xung quanh, tiếp nhận con người thật của mình. Để rồi khi Yuki và Ame đứng trước sự lựa chọn thứ mình muốn trở thành, người mẹ vẫn kiên định ở phía sau ủng hộ mọi quyết định mà con cái đã chọn. Khi còn bé Yuki và Ame thường “hiện nguyên hình” khi không khống chế được Có thể nói Hana đã là người hướng đạo tuyệt vời cho hai đứa trẻ trong hành trình đi tìm bản ngã. Cô chị Yuki lúc nhỏ hiếu động bao nhiêu thì lớn lên lại dịu dàng, nữ tính và “người” bấy nhiêu; trong khi cậu em Ame ngày bé yếu đuối và nhút nhát là thế mà sau này lại quyết liệt đi theo tiếng gọi của đại ngàn đến vậy. Không thể lựa chọn cách sinh ra nhưng có thể lựa chọn cách sống. Và trong cả hai trường hợp, khi hai đứa trẻ chưa hoàn toàn trưởng thành nhưng đã kịp rẽ về hai ngả – một đường sói, một lối người – Hana vẫn dành cho cả hai tình yêu và sự ủng hộ không điều kiện, không điều kiện như tình yêu nồng nàn không toan tính mà tuổi trẻ của cô từng dành cho cha chúng. Bên cạnh dòng chảy chính của tình mẫu tử đầy bản năng trong huyết quản Hana, Những Đứa Con Của Sói còn một mạch ngầm khác, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Hayao Miyazaki, bậc thầy anime Nhật Bản: tình yêu thiên nhiên, môi trường sống. Phim không chỉ là câu chuyện cổ tích đậm tính nhân văn mà còn là tập tranh tươi sáng đầy màu sắc. Những Đứa Con Của Sói đạt giải thưởng Phim hoạt hình của năm do Viện Hàn Lâm Nhật Bản trao tặng, trở thành tác phẩm thứ hai (sau Cô Gái Vượt Thời Gian) lọt top 20 anime xuất sắc nhất của thế kỷ 21. 6. The Wind Rises – Gió Nổi (Đạo diễn: Miyazaki Hayao, 2013) The Wind Rises (Gió Nổi) là anime dã sử do Miyazaki Hayao đảm nhiệm vai trò đạo diễn và biên kịch, được chuyển thể từ truyện tranh cùng tên vốn cũng dựa trên một truyện ngắn của tác giả Hori Tatsuo. Phim đạt doanh thu cao nhất Nhật Bản năm 2013. Bên cạnh đó, Gió Nổi cũng nhận được Viện Hàn lâm Nhật Bản trao giải Phim hoạt hình hay nhất, cùng nhiều đề cử danh giá như đề cử giải Oscar cho Phim hoạt hình hay nhất, đề cử Quả cầu vàng cho Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất. Tình yêu với Naoko tiếp thêm hi vọng và sức mạnh cho Jirou Giấc mơ được lái máy bay chinh phục bầu trời của Jirou tưởng chường như đã bị dập tắt bởi vì anh bị cận nặng và không thể trở thành phi công. Tuy nhiên, sau đó anh đã tiếp tục theo đuổi đam mê bằng cách trở thành một kỹ sư thiết kế máy bay chiến đấu. Jirou gặp và yêu Naoko, một cô gái yếu đuối nhưng luôn lạc quan yêu đời. Vượt qua những trở ngại trong công việc với sự trợ giúp của Naoko (mặc cho căn bệnh lao đang gặm nhấm cô từng ngày), Jirou thành công chế tạo nên chiếc Mitsubishi A5M - tiền thân của chiếc Mitsubishi A6M 'Zero' - máy bay chiến đấu xuất sắc nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai vút bay đầy kiêu hãnh. Tuy nhiên, "Gió vẫn thổi, ta phải sống" là câu nói ở đầu phim nhưng gần như đã báo trước kết thúc. Những thiết kế quý giá của Jirou sớm trở thành đống tro tàn trong thất bại của Đế quốc Nhật Bản. Anh bơ vơ trong sự nuối tiếc và cô độc khi Naoko từ giã cõi đời. Trong những giấc mơ, Jirou thấy Caproni – thần tượng, nguồn cảm hứng của anh – và Naoko vẫn ở bên cạnh mình, động viên anh tiếp tục sống. Vì gió vẫn thổi và ta phải tiếp tục sống và mơ ước dù biết ngọn gió cuộc đời không lặng bao giờ. “Ừ, anh sẽ không buông tay em ra đâu” Mặc dù được giới chuyên môn đánh giá cao, nhưng Gió Nổi vẫn vấp phải những ý kiến chỉ trích vì sao Miyazaki Hayao lại làm ra một bộ phim ca ngợi kẻ làm ra “cỗ máy giết người Zero”. Tuy nhiên, Miyazaki chia sẻ rằng ông tìm thấy cảm hứng từ câu nói của kỹ sư Horikoshi – người thực sự thiết kế chiếc máy bay này – rằng tất cả những gì ông từng mong muốn chỉ là làm ra một thứ thật đẹp. Cha đẻ của Studio Ghibli đã vắt kiệt tinh thần và sức lực để hoàn thành Gió Nổi – anime cuối cùng trong sự nghiệp của ông. Gió Nổi là dấu chấm thật hoàn hảo cho cuộc đời làm nghệ thuật với nhiều thành tựu đẹp đẽ của Miyazaki Hayao. Dù là “cỗ máy giết người Zero” của Horikoshi hay thuốc nổ dynamite của Alfred Nobel, tất cả đều bắt đầu từ những giấc mơ thật nhỏ bé. Giấc mơ có thể thuần khiết, nhưng tham vọng của con người đã vấy bẩn nó. Jirou đại diện cho những con người muốn tạo nên những điều đẹp đẽ. Dù lịch sử có phán xét như thế nào, họ vẫn xứng đáng nhận được sự tôn trọng của chúng ta và cả Miyazaki, chỉ là đôi khi định mệnh cuốn chúng ta theo những dòng chảy khó mà lường trước. "Gió vẫn thổi, ta phải sống", phải sống dẫu bằng một phương thức tàn khốc đến đâu chăng nữa. (Còn tiếp)
  24. Bộ phim black comedy của Hollywood "The Big Short" kể lại cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008 trong lòng nước Mỹ và câu chuyện kỳ lạ về những kẻ “ngược dòng” giữa biết bao rối ren ấy. Từ một trong hai sự kiện ảnh hưởng sâu sắc tới xã hội Mỹ thế kỷ XXI Cho đến nay, hai sự kiện được coi là quan trọng nhất đối với xã hội nước Mỹ trong thế kỷ XXI là vụ khủng bố 11/9/2001 và cuộc khủng hoảng tài chính giai đoạn 2007-2008. Nếu như vụ khủng bố 11/9 và hệ lụy trực tiếp của nó là cuộc chiến chống khủng bố tại Afghanistan và Iraq đã trở thành đề tài quen thuộc của Hollywood trong hơn một thập kỷ qua, thì diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính, cũng như những hậu quả của nó đối với đời sống kinh tế và xã hội nước Mỹ lại ít được giới làm phim quan tâm. Chưa có nhiều bộ phim kể lại diễn biến và hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008 của nước Mỹ. The Big Short (2015) là một tác phẩm hiếm hoi đề cập đến câu chuyện ấy, theo phong cách hài hước nhưng đầy cay đắng. Ngoại trừ dòng phim tài liệu với các tác phẩm khai thác trực tiếp đề tài ấy như Capitalism: A Love Story (2009) của Michael Moore hay Inside Job(2010) của Charles H. Ferguson, bây giờ mới có tác phẩm điện ảnh gần như là duy nhất kể lại những sự kiện trong giai đoạn 2007-2008 là Margin Call (2011) của đạo diễn J.C. Chandor. Có lẽ những số liệu và thuật ngữ tài chính khô khan, rắc rối, cùng hậu quả vô hình khó cảm nhận của cuộc khủng hoảng đã làm khó giới làm phim trong việc tạo ra các tác phẩm vừa mô tả được thực tế, vừa lôi kéo được khán giả. Margin Call chính là bằng chứng cụ thể nhất cho những khó khăn đó, khi mà dàn diễn viên danh tiếng bao gồm Kevin Spacey, Paul Bettany, Stanley Tucci, cộng với phần kịch bản rất chắc tay, cũng không thể giúp bộ phim thực sự trở nên ăn khách hoặc gây ra tiếng vang về mặt nghệ thuật nếu so với những tác phẩm điện ảnh cùng năm có đề tài “mềm” hơn nhưHugo của Martin Scorsese hay The Artist của Michel Hazanavicius. Nhưng với The Big Short năm 2015 của đạo diễn Adam McKay, tác phẩm chuyển thể từ cuốn sách cùng tên của nhà báo tài chính Michael Lewis, Hollywood rốt cuộc đã tìm ra công thức thành công cho đề tài khó nhằn ấy. Câu chuyện kỳ lạ về những kẻ “ngược dòng” Bối cảnh của The Big Short là nước Mỹ trong những năm đầu thiên niên kỷ mới, khi nền kinh tế ổn định cùng chính sách nới lỏng tiền tệ đã giúp giới tín dụng phất lên nhanh chóng, đặc biệt là thông qua việc kinh doanh, môi giới địa ốc. Năm 2005, trong bối cảnh thị trường tài chính và bất động sản phủ đầy màu hồng ấy, Michael Burry (Christian Bale) - một bác sĩ chuyển nghề quản lý quỹ đầu tư lại làm tất cả khách hàng của anh ta sửng sốt khi đưa ra tiên đoán rằng bong bóng địa ốc sẽ vỡ tan chỉ trong vòng hai năm, bởi vậy quỹ đầu tư Scion của anh cần đi ngược lại chiều hướng của thị trường để đặt cược vào các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng CDS (“Credit Default Swap”). Gã bác sĩ chuyển nghề lập dị Burry đưa ra lời tiên đoán không tưởng vào năm 2005. Nhưng những kẻ "ngược dòng" như anh rốt cuộc đã đúng sau đó hai năm. Bằng một việc đơn giản nhưng không mấy ai để ý là đọc kỹ các hợp đồng mua bán địa ốc và tìm ra vô số rủi ro tài chính từ đó, Burry tin chắc rằng việc ký thỏa thuận CDS với các ngân hàng lớn là mối hời không thể bỏ qua, khi các đơn vị tài chính này sẽ phải trả số tiền rất lớn cho quỹ đầu tư của anh trong trường hợp thị trường địa ốc đổ vỡ. Bởi vậy, bất chấp sự phản đối kịch liệt của khách hàng, Burry tung hết tiền của quỹ đầu tư vào các hợp đồng CDS với tất cả tên tuổi lớn nhất của thị trường tài chính Phố Wall trong sự ngạc nhiên và chào đón của giới chủ ngân hàng tham lam, vốn coi thị trường bất động sản là nền tảng không thể tan vỡ của định chế tài chính nước Mỹ. Thoáng nghe được câu chuyện đầu tư “điên rồ” của Burry, Jared Vennett (Ryan Gosling) - một chuyên viên tài chính của ngân hàng Deutsche Bank, nhanh chóng nắm bắt được ý đồ đó và lập tức đi tìm nhà đầu tư để đổ vốn vào thị trường CDS. Người duy nhất chịu tin và hợp tác với Vennett là Mark Baum (Steve Carell) - một chuyên gia giao dịch tài năng nhưng cũng mang nặng trong lòng nỗi tức giận với sự tham lam của giới tài chính Phố Wall. Lời tiên đoán của Burry còn lôi kéo được thêm Jared Vennett và và Mark Baum. Không một ai tin họ khi thị trường tài chính phủ hoàn toàn màu hồng. Cũng bắt nguồn từ ý tưởng của Vennett, hai giao dịch viên trẻ tuổi và vô danh là Charlie Geller (John Magaro) và Jamie Shipley (Finn Wittrock) bắt đầu tìm cách kiếm lời từ thị trường CDS đầy rủi ro với sự hỗ trợ của chuyên gia tài chính về hưu Ben Rickert (Brad Pitt). Lịch sử cuối cùng đã chứng minh rằng những người thuộc phe thiểu số như Burry, Vennett hay Baum đã đúng với những tiên đoán xuất thần của họ về thị trường. Nhưng để đi tới thành công, họ phải trải qua rất nhiều áp lực từ bạn bè, đồng nghiệp, và cả diễn biến kỳ lạ của thị trường với hàng loạt sự kiện mà đến chính những kẻ “ngược dòng” cũng không thể ngờ tới. Sự tài tình của đạo diễn Adam McKay Gây dựng tên tuổi qua các bộ phim hài thành công như loạt Anchorman, Adam McKay có lẽ là lựa chọn bất ngờ của nhà sản xuất Brad Pitt và hãng phim Plan B Entertainment cho một dự án tưởng chừng rất khô khan về tài chính và khủng hoảng kinh tế. Nhưng cũng giống như những kẻ ngược dòng trong phim, đội ngũ nhà sản xuất đã đúng. Dưới bàn tay biên kịch và đạo diễn của McKay, chất hài châm biếm giúpThe Big Short trở nên gần gũi, dễ hiểu và lôi cuốn hơn rất nhiều với số đông khán giả vốn không hiểu, và cũng không quan tâm tới những đề tài xa lạ như thị trường tài chính, bong bóng nhà đất… Để giải thích những thuật ngữ dài dòng và rắc rối của giới tài chính, Adam McKay đã cực kỳ sáng tạo khi viện tới những cái tên nổi tiếng nhưng hoàn toàn không phải chuyên gia về lĩnh vực đó như nữ diễn viên Margot Robbie, chuyên gia ẩm thực Anthony Bourdain, hay ca sĩ Selena Gomez để giải thích trực tiếp cho khán giả thông qua nhiều phân cảnh dạng phim tài liệu và những ví dụ đời thường rất dễ nắm bắt. Tham gia diễn xuất, nhưng Brad Pitt còn kiêm nhiệm cả vai trò sản xuất của The Big Short. Anh và hãng phim của mình đã đúng khi chọn Adam McKay cho dự án mang đề tài tưởng chừng khô khan. Bên cạnh đó, chất hài trong phim cũng được gia giảm hợp lý theo nhịp phim, với phần đầu đậm đặc chất hài châm biếm theo phong cách thường thấy của McKay để giúp khán giả làm quen với bối cảnh của nền tài chính nước Mỹ trước khủng hoảng, cho tới phần cuối phim trầm lắng và tập trung vào những diễn biến và hậu quả của cuộc khủng hoảng đối với từng cá nhân và với cả xã hội. Sự điều tiết tài tình nhà làm phim giúp khán giả có thể nắm bắt được nhịp điệu của tác phẩm và bị cuốn vào những chi tiết, nhân vật đầy màu sắc của đời sống kinh tế nước Mỹ. Không chỉ giúp bộ phim bớt phần nặng nề, nét châm biếm chua cay củaThe Big Short còn góp phần làm nổi bật hơn sự tham lam đến mức mù quáng, coi thường luật lệ, coi thường số phận người dân bình thường của giới tài chính Phố Wall. Từ những ngân hàng khổng lồ cho tới các quỹ đầu tư nhỏ lẻ, từ những ông chủ lớn nắm trong tay hàng trăm triệu USD, thậm chí là hàng tỷ USD, cho tới những chuyên viên giao dịch địa ốc ở mức thấp nhất, tất cả đều bị màu xanh của đồng đô-la làm mờ mắt. Tới mức ngay cả khi số liệu đã chứng minh hiểm họa cận kề của cơn sốt bất động sản, vẫn không có một ai tin vào những dự đoán rất có cơ sở của Burry, của Baum. Để rồi khi khủng hoảng xảy ra, tất cả lại giẫm đạp lên nhau để tranh giành “miếng” bánh CDS. Sự phức tạp của thị trường tài chính với những cá nhân tham lam nhưng nhưng mưu mô, tính toán được The Big Short khắc họa rất thành công với mạch truyện lôi cuốn, hợp lý, tạo cho người xem cảm giác liền mạch bất chấp việc phim được dựng đa phần với các cảnh ngắn, với phần thoại gọn gàng và nhịp điệu dồn dập từ đầu tới cuối. Bởi thế, không ngạc nhiên khi tác phẩm hiện nhận được rất nhiều đề cử về kịch bản trong mùa giải thưởng điện ảnh 2015-2016 của Hollywood. Dàn diễn viên thượng hạng lên tiếng Một tác phẩm với cốt truyện có phần phức tạp và nhiều tuyến nhân vật xen kẽ như The Big Short chỉ có thể thành công với dàn diễn viên nhập vai và ăn ý. Và đạo diễn Adam McKay đã có được điều đó nhờ hàng loạt các ngôi sao hạng A như Christian Bale, Steve Carell, Ryan Gosling, Brad Pitt hay Marisa Tomei (vai Cynthia Baum, vợ của Mark Baum), cùng một số gương mặt trẻ đầy triển vọng như John Magaro hay Finn Wittrock. Nổi bật nhất trong số đó là Steve Carell trong vai Mark Baum - giọng nói của lương tri và lý trí giữa Phố Wall điên loạn. Luôn muốn tìm hiểu bản chất của mọi iệc, Baum nhanh chóng nắm bắt được dự báo của Burry và Vennett về sự đổ vỡ của thị trường địa ốc. Nhưng rồi cũng chính ông là người nhận ra rằng những đổ vỡ mang tính hiện tượng ấy không thể giúp hàn gắn khuyết điểm cố hữu của định chế tài chính vốn vận hành bởi một mục tiêu duy nhất: tiền, thật nhiều tiền. Với The Big Short, Steve Carell thêm một lần nữa cho thấy mình không đơn thuần chỉ là một danh hài, mà là một ngôi sao có thực lực tại Hollywood. Thành công với vai diễn mới trong The Big Short, hay trước đó là gã quý tộc lập dị John Eleuthère du Pont trong Foxcatcher (2014), Steve Carell cho thấy ông không chỉ là một danh hài, mà thực sự là một diễn viên có thực lực hàng đầu Hollywood. Đối nghịch với sự thâm trầm của Carell là nét lập dị của Bale trong vai bác sĩ Burry - kẻ tiên tri, và sự ngạo đời của Ryan Gosling trong vai Vennett - kẻ cơ hội. Mỗi người mỗi vẻ, bộ ba Carell - Bale - Gosling đã tạo ra bức tranh đa diện, nhiều tính cách, màu sắc về Phố Wall, nơi nắm giữ vận mệnh tài chính của cả nước Mỹ. Thương trường chính là chiến trường. Đây là câu ví von thường được người ta dùng khi nhắc tới nghề kinh doanh hay giới doanh nhân. Nếu sử dụng cách ví von ấy, thì Phố Wall thực sự là một bãi chiến trường khổng lồ, nơi diễn ra cuộc chiến không ngừng nghỉ giữa những trí tuệ thượng hạng nhưng lại dễ dàng trở nên lú lẫn vì đồng tiền. Đáng sợ hơn thế, “thương vong” của cuộc chiến ấy lại là những kẻ ngoài cuộc, hay chính là những người dân thường chỉ mong có được mái nhà yên ổn hay khoản thu nhập ổn định, đủ để trang trải cuộc sống. Nhưng một khi lòng tham vẫn còn thống trị Phố Wall, khi đồng tiền vẫn còn là mục đích sống duy nhất của giới kinh doanh tài chính, thì những cuộc khủng hoảng như giai đoạn 2007-2008 sẽ vẫn còn diễn ra, những người dân bình thường sẽ tiếp tục lại là nhạn nhân. Và đó chính là thông điệp mà The Big Short, một trong những tác phẩm điện ảnh xuất sắc của năm 2015, muốn truyền tải tới công chúng. http://news.zing.vn/4-ly-do-khong-the-bo-qua-bo-phim-ve-khung-hoang-tai-chinh-My-post616374.html
  25. “Đúng nơi, đúng thời điểm, nhầm người”. Ở trường hợp của anh chàng Jack trong bộ phim hài Man Up, câu nói này lại không mang ý nghĩa tiêu cực, bởi nhờ sự nhầm lẫn mà anh tìm ra một nửa của đời mình giữa chốn đông xa lạ. Nancy (Lake Bell) là một cô nàng đã qua tuổi “băm” mà vẫn chưa lập gia đình do tính tình lập dị. Trong một lần bắt chuyến tàu tốc hành về dự kỷ niệm 40 năm ngày cưới của bố mẹ, cô đã bị một người đàn ông tên Jack (Simon Pegg) nhận nhầm là bạn hẹn giấu mặt của anh ta. Bị “cảm nắng” khi nhận ra giữa anh ta và mình có quá nhiều điểm tương đồng, Nancy quyết định giữ kín thân phận thật và bắt đầu buổi hẹn hò đầy bất ngờ với Jack, từ đó kéo theo nhiều tình tiết dở khóc dở cười. Nét quyến rũ của Man Up đến từ sự diễn xuất vô cùng ăn ý của Simon Pegg và Lake Bell. Vốn nổi tiếng với những tựa phim hài “phá cách” như Hot Fuzz, Shaun of the Dead và gần đây nhất là Absolutely Anything, sự tham gia của Simon Pegg là lý do của nhiều khán giả khi lựa chọn xem một bộ phim dù có thực sự thích nó hay không. Simon Pegg đã lôi cuốn người xem bằng bộ mặt “cún con”, lối diễn xuất “tưng tửng” cùng khả năng ứng biến vai diễn đầy tuyệt vời. Song, nhân vật chiếm nhiều đất diễn hơn lại là nữ diễn viên Lake Bell. Xuất hiện rải rác trong nhiều tựa phim truyền hình và điện ảnh, cô là cái tên kém nổi hơn trong Man Up. Yêu phim ảnh, ghét sự lãng mạn giả tạo trong tình yêu, lý do thực sự khiến người phụ nữ đầy cá tính này cô độc là bởi cô quá khác biệt. Chỉ đến khi gặp được Jake và nhận ra cả hai đều có thể trích dẫn thoại trong “Sự im lặng của bầy cừu” và “Phố Wall”, trái tim nguội lạnh từ lâu mới đập lỡ nhịp một lần nữa. Cùng nhau, cả Pegg và Bell giúp Man Up thoát khỏi sự sáo mòn của những bộ phim chick-flick dạo gần đây, thậm chí trong đoạn hội thoại có khi họ còn mỉa mai dòng phim tình cảm “ba xu” rẻ tiền. Và bởi vì cả hai nhân vật chính đều ghét tình yêu sến sẩm, nên Man Up cũng không quá sa đà vào những phân đoạn gây xúc cảm. Cuộc hẹn lạ kỳ giữa Nancy và Pegg vì thế gặp biết bao trở ngại và những kẻ phá đám, những tình tiết trào phúng mới mẻ và ngẫu hứng luôn khiến người xem tự hào vì đã không chọn nhầm phim. Chỉ tính riêng mảng hài hước, Man Up đã là một lựa chọn sáng suốt của bạn. Đằng sau những câu chuyện hài hay nên là những câu chuyện buồn đã tìm được lối thoát, và đó cũng chính là câu chuyện của Jack và Nancy. Jack vừa chấm dứt một cuộc hôn nhân tưởng rằng trong mơ, Nancy hơn 10 năm vẫn bị ám ảnh bởi tình đầu, đằng sau những nụ cười, những hành động ngớ ngẩn là hai trái tim bị tổn thương dài hạn. Giữa Simon Pegg và Lake Bell đã tạo ra một mối liên kết rất chặt, sự đồng điệu rất sâu, có lúc tưởng chừng họ đã có tình cảm ngoài đời với nhau và chỉ đơn thuần truyền tải nó vào nhân vật. Tựa phim – Man Up, còn hàm ý chỉ sự trưởng thành, khi người ta có thể tìm cho mình một tâm hồn đồng điệu mới, một cá thể có thể khiến họ “F*ck the past”, thì cũng là lúc cả Jack và Nancy đều “trưởng thành”. Dù họ có đến với nhau vào cuối phim hay không, việc cả hai vô tình tìm thấy nhau giữa biển người rộng lớn đã là một điều kỳ diệu. Điểm trừ của Man Up có lẽ là ở một kịch bản quá giản đơn, ngô nghê. Chi tiết nhận nhầm nhau ngay từ đầu đã vô lý, rồi dẫu người xem có chấp nhận cái vô lý ấy, nhiều diễn biến phi logic khác trong phim cũng khiến chúng ta có phần ngao ngán. Chưa kể, khi mà nội tâm của hai nhân vật quá mãnh liệt, thì mâu thuẫn của họ, cùng cao trào cuối phim cũng được giải quyết quá dễ dàng. Sự lôi cuốn không giảm dần đều nhưng cứ bình bình đến hết phim. Điều này khiến Man Up thích hợp là một tựa phim xem tại nhà, nhưng nếu ra rạp thì có phần hơi… lãng phí. Nhìn chung, bộ phim mới với sự liên thủ của Simon Pegg dễ xem, đáng xem, đặc biệt là dành tặng những cặp đôi có việc gặp gỡ cũng… ly kỳ không kém nhân vật trong phim. Chưa kể, không khí ấm cúng của Man Up thích hợp là phim xem lúc đông lạnh về, khi tiếng ngân nga báo hiệu Giáng sinh về đang sắp vang lên. http://molo.vn/phim-hai-tinh-cam-man-khi-nguoi-ta-tim-thay-tinh-yeu-o-tuoi-40/
×
×
  • Create New...