Jump to content
Sign in to follow this  
Black Magician

Review Kaze Tachinu – Dấu ba chấm cho hồi kết của một sự nghiệp vĩ đại

Recommended Posts

Kaze Tachinu - Gió nổi


“Không thể hiểu sao đất nước này lại nghèo đói như vậy.”

Đó là những dòng tâm sự của nhân vật chính Jirō Horikoshi khi chứng kiến cảnh hai đứa trẻ bồng bế nhau chờ bố mẹ về dưới ánh điện đường vàng vọt, đói khát nhưng quyết không nhận phần bánh mà anh sẻ chia. Lời tự vấn ấy dường như trở thành nguồn động lực cho hành trình xuyên suốt bộ phim của người kỹ sư, nghệ sĩ với đam mê rực cháy, với khát khao mãnh liệt làm hưng thịnh nước nhà như những gì anh hằng đau đáu qua công việc thiết kế máy bay. Đan xen trong đó, Miyazaki kể một câu chuyện tình đẹp mà đượm buồn giữa chàng kỹ sư trẻ với cô gái “hồng nhan bạc mệnh” Nahoko, đồng thời mở ra hình ảnh một đất nước Nhật Bản giữa hai cuộc chiến tranh nghèo nàn, lạc hậu, đói khổ, bệnh tật nhưng mỗi con người trong đó chưa bao giờ ngừng nỗ lực vươn lên, thoát khỏi sự tù túng.

Wzmx7jh.jpg?1
Áp phích phim. Ảnh: Toho


Chàng nghệ sĩ với ước mơ nơi bầu trời

Sinh thời, Jirō mang trong mình hoài bão được trở thành phi công, được lái những chiếc máy bay bay qua bao vùng miền hoang sơ của quê hương. Trường đoạn mở đầu bộ phim, với phong cách rất “Miyazaki” – chiếc phi cơ với tạo hình đặc biệt hệt như một cánh chim khổng lồ và phần động cơ hoạt động đôi chút hư cấu có thể bắt gặp trong các tác phẩm giả tưởng của ông như “Nausicaä của Thung lũng gió”, “Laputa: Lâu đài trên không trung” hay “Lâu đài di động của Howl” bay trên nền thiên nhiên được tuyệt mỹ hóa với những màu sắc và ánh sáng lung linh – đã cụ thể hóa ước mơ ấy của cậu, nhưng cũng cho ta biết rằng đó chỉ là một giấc mộng. Một giấc mộng thật đẹp, cứ ngỡ như chàng trai trẻ này chỉ sống cho mình nó vậy. Tuy nhiên, mộng mơ nào rồi cũng đến hồi thức giấc. Chứng cận thị ngày càng nặng khiến Jirō phải từ bỏ khát vọng được ngồi trên khoang lái và hướng ánh mắt về phía chân trời bao la. Dẫu vậy, khiếm khuyết về thể xác không thể ngăn cản được tâm hồn một mực gắn bó với những thiết kế diệu kỳ ấy của người nghệ sĩ nhí. Cậu tâm niệm mình sẽ trở thành một nhà sáng chế máy bay sau khi gặp Giovanni Caproni – kỹ sư hàng không nổi tiếng người Ý – trong những giấc mơ giao thoa của hai người.

“Nghe này, cậu bé Nhật. Máy bay không phải là công cụ chiến tranh, cũng không phải một thứ hàng hóa. Máy bay là những giấc mơ đẹp. Và nhà thiết kế sẽ biến những giấc mơ đó thành hiện thực.”

caAS6Bo.jpg?1
Jiro Horikoshi và Giovanni Caproni. Ảnh: Toho


Gió nổi

Đúng như tựa đề của bộ phim, gió là một nhân vật vô hình luôn đồng hành cùng Jirō suốt chặng đường đời. Gió tạo nên lực nâng khí động lực học nâng cánh máy bay, chở theo bao khát vọng xa xôi của chàng nghệ sĩ đang “băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời”. Gió thổi bay chiếc mũ mang cô gái trẻ đẹp Nahoko đến bên anh. Gió gây nên trận đại hỏa hoạn gắn kết hai người với nhau, cho cô hiểu thêm tấm lòng nghĩa hiệp của Jirō. Trong thời gian Jirō đi nghỉ ở Đức, gió một lần nữa đổi chiều làm chiếc dù lượn vòng trước khi rơi vào tầm tay anh, và cặp tài tử giai nhân gặp lại nhau sau mấy năm trời mất liên lạc. Gió lái chiếc máy bay giấy chàng gấp, gửi gắm tình yêu đến nàng, kết duyên cho đôi uyên ương. Khi những thiết kế của người kỹ sư trở thành đống sắt thép hoang tàn bởi thất bại của Nhật trong Thế chiến thứ hai, tất cả niềm tin vào cuộc sống trong anh biến mất, người bạn đời yêu dấu cũng rời xa anh đi về cõi vĩnh hằng vì căn bệnh hiểm nghèo. Nhưng gió thì không, trong giờ phút tuyệt vọng nhất của Jirō, hình ảnh Nahoko cưỡi trên cơn gió thoảng hiện về nhắc nhở anh phải sống lại thắp lên ngọn lửa hy vọng, làm hồi sinh những xúc cảm mãnh liệt sau mười năm tuổi trẻ phí hoài nơi anh. Như câu thơ của thi hào Pháp Paul Valéry:

“Gió đã lên, hãy gắng sống kiếp này
Gió xoay hướng, sách đời tôi mở đóng”


YA6i8bu.jpg?1
Gió theo Jiro suốt chặng đường đời. Ảnh: Toho


Đất nước của những Aristotle

Kỹ sư hàng không Jirō Horikoshi sinh ra vào thời buổi chuyển giao của đất nước Nhật Bản. Câu chuyện trong phim tập trung vào giai đoạn từ thuở thiếu thời của Jirō đến khi Đế quốc Nhật thất bại và đầu hàng phe Đồng Minh, tức là khoảng từ sau Thế chiến thứ nhất đến khi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc. Trong suốt gần 30 năm đó, sự khủng hoảng của nền kinh tế hậu chiến và thảm họa động đất Kanto đã kìm hãm sự phát triển của nước Nhật đến hai thập kỷ so với thế giới, mà cụ thể là Đế quốc Phát xít Đức, nơi Jirō cùng những kỹ sư khác đặt chân đến để học hỏi về công nghệ máy bay. Người bạn thân nhất và cũng là đồng nghiệp của anh – Honjo – đã ví von sự lạc hậu này với Nghịch lý “Achilles và con rùa”, theo đó: “Trong một cuộc chạy đua, người chạy nhanh nhất không bao giờ có thể bắt kịp được kẻ chậm nhất. Kể từ khi xuất phát, người đuổi theo trước hết phải đến được điểm mà kẻ bị đuổi bắt đầu chạy. Do đó, kẻ chạy chậm hơn luôn dẫn đầu”. Nhưng chưa đầy một trăm năm sau khi nghịch lý này được đưa ra, nó đã bị bác bỏ bằng những lập luận xác đáng của Aristotle. Chứng tỏ rằng việc Nhật Bản đuổi theo được Đức là điều hoàn toàn có thể, và nó đã xảy ra, Achilles đã bắt kịp, thậm chí là vượt qua con rùa. Sự thần kỳ ấy có được là nhờ tinh thần quật cường của người dân đất nước mặt trời mọc, mà ở đây Miyazaki đã mượn hình tượng Jirō Horikoshi để khắc họa và ngợi ca.

9JThApC.png?1
Jiro làm việc như một chú ong thợ cần mẫn. Ảnh: Toho


Jirō trong phim là một chàng trai tướng tá đạo mạo, khuôn mặt đầy suy tư “như phải gánh cả nền công nghệ máy bay Nhật Bản”, chất giọng “cao”, cách nói chuyện “không hoa mỹ, ít lời nhưng vẫn toát lên vẻ trí thức nhờ lựa chọn từ ngữ chỉn chu” (lời Miyazaki). Cũng chính chất giọng đặc biệt ấy của anh đã khiến vị đạo diễn 72 tuổi này phải điên đầu trong việc lựa chọn diễn viên lồng tiếng khi những cái tên đưa ra đều không thể đáp ứng được yêu cầu quá cao trên. Kết quả là một đạo diễn xuất chúng khác của xứ sở hoa anh đào đã được giao phó cho nhiệm vụ khó khăn này – Hideaki Anno. Và không để vị tiền bối phải thất vọng, Anno đã đem lại cho nhân vật Jirō Horikoshi một cái hồn rất riêng bằng cách thể hiện cảm xúc qua giọng nói tự nhiên, không quá gượng ép, luyến láy ở những đoạn đối thoại cần thiết, chất chứa cảm xúc nội tại của một chàng thanh niên đã chứng kiến và mang trong mình bao nỗi đau của dân tộc. Rõ ràng, Jirō Horikoshi là hiện thân cho con người Nhật Bản với tất cả những gì tinh túy nhất: sự chăm chỉ, cần lao, tinh thần nghĩa hiệp, yêu thương đồng loại nhưng cũng vô cùng mỏng manh, yếu đuối. Ngay từ nhỏ, Jirō đã có máu anh hùng khi sẵn sàng ra tay giúp đỡ những đứa trẻ bị bắt nạt để rồi mình mẩy xây xát. Lớn lên, tinh thần ấy vẫn còn nguyên, thậm chí còn trở thành một phản xạ có ý thức trong anh: anh không do dự nhường chỗ cho một người phụ nữ trên tàu, cõng người thị nữ của Nahoko về nhà mà không xưng tên, chia phần ăn của mình cho những đứa trẻ đói khát. Jirō làm việc như một chú ong thợ cần mẫn để chế tác nên công trình mơ ước cả đời mình – chiến đấu cơ Mitsubishi A6M ‘Zero’ – cũng như để khôi phục đất nước sau sự tàn phá ghê gớm của thiên nhiên. Khác với Honjo luôn ca thán về sự nghèo khó của Nhật, anh chỉ nín lặng nhìn và ngẫm nghĩ, mong muốn đóng góp sức mình “làm nên cái gì đó thật ấn tượng” (Câu nói này của Jirō Horikoshi ngoài đời cũng chính là nguồn cảm hứng để Miyazaki thực hiện bộ phim). Những con bò kéo phi cơ ra bãi thử vốn là nỗi hổ thẹn đối với Honjo cũng được Jirō trân trọng đến âu yếm ở lời trò chuyện cuối cùng (trong phim) với Nahoko. Dù học tập công nghệ của người Đức với những cỗ máy kim loại sáng loáng, anh vẫn giữ nguyên cái hồn Á Đông trong thiết kế của mình với hình dáng của chiếc xương cá thu mà anh luôn trầm trồ trong mỗi bữa ăn. Chiếc Zero oai hùng tung cánh bay trên bầu trời như một biểu tượng cho khát vọng tột bậc của người dân xứ hoa anh đào về một thành tựu lớn lao trên mảnh đất đã bao lần hứng chịu những thiên tai, những cơn đại địa chấn làm rung chuyển đất trời. Vì thế nên không khó hiểu khi tất cả các phi cơ ấy đều không trở lại, Jirō cũng chẳng còn động lực để sống tiếp nữa.

66FBiPK.png?1
Chiến đấu cơ Mitsubishi A6M ‘Zero’. Ảnh: Toho


Miyazaki là một trong số không nhiều những nhà làm phim bắt đầu thực hiện tác phẩm của mình với một kịch bản chưa được định hình rõ ràng. Điều đó cho phép đạo diễn người Nhật được thỏa sức sáng tạo, phóng tác những tình tiết, những hé lộ tinh vi khi đã đắm mình hoàn toàn trong câu chuyện. Kiệt tác “Cuộc phiêu lưu của Chihiro vào thế giới linh hồn” của ông đã ra đời theo cách như vậy. Và đương nhiên, “Kaze Tachinu” cũng không phải ngoại lệ. Ban đầu, Miyazaki dự định kết thúc bộ phim với cái chết của Jirō, làm nên một câu chuyện mà “cuối cùng tất cả đều ra đi” như lời của nhà sản xuất Suzuki Toshio. Nhưng khi bộ phim gần hoàn tất ông đã thay đổi kịch bản, trong giấc mơ của Jirō, ở vương quốc Caproni, Nahoko đến cùng cơn gió và nói với anh rằng: “Hãy sống anh nhé (ikite)” thay vì “Hãy đến đây (kite)”, mang lại cho bộ phim một sắc thái tươi vui hơn hẳn, dù xét về tổng thể, đây vẫn là một tác phẩm lấy đi rất nhiều nước mắt của người xem, trong đó có cả cha đẻ của nó.

Bộ phim gây day dứt bởi nó chứa đựng cơ man là dang dở: dang dở trong sự nghiệp, dang dở trong ước mơ và dang dở trong cả tình yêu của Jirō. Nahoko là một cô gái nhỏ nhắn, xinh đẹp, tươi vui, một tuyệt sắc giai nhân. Cô yêu thương Jirō bằng cả trái tim mình, sẵn sàng từ bỏ tất cả để được ở bên anh, giúp anh đạt được ước nguyện thời trai trẻ. Nếu như Jirō tượng trưng cho những đức tính đã làm nên hào khí trong con ngườI đất nước của các Samurai thì Nahoko như một đóa Mimosa khiêm nhường, thầm lặng, giàu đức hy sinh nơi người phụ nữ miền đất này. Bàn tay nắm chặt tay Jirō suốt đêm dài mỏi mệt, khuôn mặt vui vẻ gượng gạo nhờ phấn son hòng che giấu căn bệnh đang dần dà hủy hoại mình đã tiếp thêm sinh khí cho anh trong những tháng ngày khó khăn nhất. Tất cả vì tình yêu vô bờ đối với Jirō, tất cả để được nhìn ngắm anh trong niềm say mê vui thú với công việc, được ở bên anh trong quãng đời ngắn ngủi còn lại. Chính vì vậy mà sự ra đi của cô đã tạo nên một tông màu buồn đến não nề cho tác phẩm. Khoảnh khắc Nahoko bước ra khỏi căn nhà ông Kurokawa (cấp trên của Jirō, Jirō đã phải tạm lánh ở đây để trốn tránh chính quyền) và trở lại bệnh viện, không cần đến âm nhạc của Joe Hisaishi, tự thân nó đã là một nốt trầm làm nhói đau tất cả những ai đang mơ về một kết thúc có hậu cho hai người. Cứ thế, cô đến và đi qua cuộc đời anh như bao cơn gió khác, chỉ có điều cơn gió này khiến cho lòng anh xao xuyến khôn cùng, bởi nó “chỉ đến một lần, như mùa xuân chỉ có một tháng Năm” (Das gibt’s nur einmal – Werner Richard Heymann, một bài hát trong phim).

RSLmghx.jpg?1
Nahoko - một tuyệt sắc giai nhân. Ảnh: Toho


Nahoko có lẽ cũng là cái nền để Miyazaki khắc họa nên khía cạnh “không hoàn thiện” trong con người Jirō, một nét rất đặc trưng ở hầu hết các nhân vật của ông. Người hâm mộ Ghibli hẳn còn nhớ bà chủ lò rèn Eboshi, một kẻ luôn mấp mé ở ranh giới thiện – ác trong “Công chúa Mononoke”. Dẫu không khắc nghiệt đến vậy nhưng Jirō trong “Kaze Tachinu” vẫn luôn bị giằng xé giữa việc theo đuổi nghiệp thiết kế và vun đắp tình yêu với Nahoko, giữa khát vọng cá nhân và tình cảm lứa đôi. Đam mê với những chiếc máy bay và việc chế tạo nên các công cụ giết người, lý tưởng cao đẹp và tội ác chiến tranh là hai điều khác mà anh càng không thể dứt khoát chọn lựa, khiến thâm tâm chàng thanh niên luôn phải tranh đấu dữ dội. Nó cũng đồng thời tạo nên những dang dở kia, từ đó xây dựng nên một chiều sâu ám ảnh cho tác phẩm cuối cùng của huyền thoại hoạt hình Nhật Bản Hayao Miyazaki.

Nhưng nếu gạt tất cả những khuyết điểm trên sang một bên thì Jirō Horikoshi và Satomi Nahoko thật sự là những con người Nhật Bản đúng nghĩa mang tinh thần võ sĩ đạo và tấm lòng vị tha cao cả, những Aristotle đã chứng minh sai lầm của Zeno chúa trời khi đưa ra một nghịch lý hồ đồ, ai cũng thấy sai nhưng không phải ai cũng tìm được sơ hở để phản bác: một đất nước phải theo sau vì thiên tai và chiến tranh thì sẽ mãi đói nghèo, lạc hậu.

Tác phẩm hiện thực mang tinh thần phản chiến sâu sắc

“Kaze Tachinu” chứa đựng bao hồi ức tuổi thơ của Miyazaki. Bố ông là giám đốc xưởng máy bay tư nhân chuyên gia công bánh lái cho chiến đấu cơ Zero của Jirō Horikoshi. Căn bệnh lao mà Nahoko phải vật lộn chiến đấu cũng đã từng cướp đi người mẹ thân yêu của ông. Và kỹ sư hàng không Jirō Horikoshi đâu đó phải chăng là một sự tự họa bản thân của chính Miyazaki: đam mê nghề phi công nhưng do cận thị nên rẽ sang con đường nghệ thuật mà vẫn giữ lửa ước mơ? Như hàng triệu người dân Nhật Bản khác trong chiến tranh, ông cùng mẹ và anh trai không thoát khỏi số phận phải hứng chịu những trận oanh tạc làm “rực sáng cả một góc trời như thể hoàng hôn vừa buông xuống”. Bởi vậy mà những thước phim ta được chứng kiến trở nên sống động hơn bao giờ hết dưới bàn tay người con nước Nhật này. Những chiếc phi cơ từ tưởng tượng đến thực thể, từ nước Ý đến nước Đức, đến quê hương ông, từ chiếc G3M của Honjo đến chiếc A6M Zero, tất cả đều như những cỗ máy khổng lồ thực sự mà ta có thể nghe bên tai tiếng gió rít, tiếng động cơ ù ù ỏi inh. Đó là thành quả của những tham vọng Miyazaki đặt ra trong quá trình thực hiện bộ phim. Ông luôn trăn trở làm sao để có thể vẽ nên chiếc Zero, “chiếc Zero trong tưởng tượng của ông, mà mọi người có thể thấy được đường bay tuyệt mỹ” mỗi khi nó cất cánh trao liệng.

wdWkVgS.png?1
Nhật Bản bại trận. Ảnh: Toho


“Kaze Tachinu” mang màu sắc hiện thực kế thừa từ Isao Takahata – đồng nghiệp của Miyazaki ở Ghibli – nhưng vẫn còn nguyên vẹn cái chất mộng mơ mà ông luôn trung thành trong tất cả các tác phẩm trước đây của mình. Không đi sâu vào những đau thương của chiến tranh gây ám ảnh người xem như “Mộ đom đóm”, không mang nặng tính Biểu hiện như “Ngày hôm qua”, “Kaze Tachinu” tựa một bài thơ mộc mạc, giản dị mà hào hùng, đắng cay. Trận động đất Kanto 1923 đi vào trong phim với hình ảnh mặt đất rung chuyển dữ dội như có một làn sóng dưới sâu đang dần trỗi dậy, quét qua những khu nhà và đường tàu, khiến mọi thứ sụp đổ trong nháy mắt; hay xác những chiếc máy bay bị bắn hạ cháy đen thui khi Nhật bại trận ở cuối phim đủ khiến ta hình dung được sự khốc liệt của tự nhiên và chiến tranh mà không phải rùng mình khiếp sợ như những xác chết nằm la liệt bên đường trong bộ phim kinh điển năm 1988 của Takahata. Căn bệnh ho lao làm khốn đốn nước Nhật trong những năm 20, 30 của thế kỷ trước cũng không được đặc tả, mà đặt cạnh nụ cười hiền hậu, tươi vui của Nahoko, nó còn có phần trở nên thật nhẹ nhàng.

DAr9aAe.png?1
Trận động đất Kanto 1923 qua nét vẽ của Miyazaki. Ảnh: Toho


Jirō Horikoshi dù là một nhà thiết kế máy bay chiến đấu nhưng vẫn mang tâm hồn bay bổng, lãng mạn của trẻ thơ. Thế giới trong giấc mơ của anh và Caproni tồn tại là vì vậy. Một nơi mà Jirō có thể trốn tránh thực tại khổ đau, tìm đến với những niềm an ủi nhỏ nhoi, những giấc mơ không “bị nguyền rủa”. Một nơi mà “máy bay chỉ để chở khách chứ không phải chở bom”. Buồn thay, chàng trai trẻ sinh ra trong thời chiến, vì thế tài năng của anh bị lợi dụng vào những mục đích xấu xa thay vì đem đến niềm vui cho con người. Không thành công trong việc chế tạo máy bay tiêm kích, Jirō được giao nhiệm vụ chế tạo máy bay ném bom. Dù biết đó không phải điều tốt đẹp nhưng anh vẫn đón nhận, phần để thỏa mong ước từ thuở ấu thơ, phần để giúp sức nước nhà trong công cuộc phục hồi kinh tế. Anh lúc này thật đáng thương mà cũng thật đáng trách. Những cảm xúc về Jirō của Miyazaki vô cùng đa chiều, hệt như cảm xúc của ông đối với cha mình. Vị đạo diễn luôn cho rằng cha đã gián tiếp ủng hộ chiến tranh, nhưng ông lại giúp đỡ những người hàng xóm khi nhà họ cháy rụi và không còn trốn nương thân. Điều đó cũng dẫn đến việc một đạo diễn luôn phản đối chiến tranh kịch liệt như Miyazaki lại làm phim về một kỹ sư thiết kế máy bay chiến đấu, từ đó nhận được không ít chỉ trích của giới chính trị gia.
Giá như chiến tranh chưa từng xảy ra, lý tưởng của Jirō Horikoshi chắc chắn sẽ trở thành sự thật.
Giá như chiến tranh chưa từng xảy ra, cha của Miyazaki sẽ mãi là một người cha đáng kính, người cho ông nguồn cảm hứng lớn lao với những cỗ máy biết bay. Dẫu vậy, Miyazaki chưa một lần oán trách cha mình, như một sự thầm cảm ơn công sinh thành và dưỡng dục của ông.

Sự tổng hòa của tất cả các yếu tố đã làm nên “thương hiệu” Miyazaki cũng như Ghibli

Miyazaki chắc chắn là một trong những đạo diễn hoạt hình cầu toàn bậc nhất thế giới nói chung và Nhật Bản nói riêng. Không chỉ kiêm luôn công việc biên kịch và chỉ đạo, các bộ phim từ “Porco Rosso” trở về trước đều được ông vẽ tay hoàn toàn, “Công chúa Mononoke” chỉ sử dụng chút ít vi tính còn các bộ phim sau đó cũng không bao giờ rơi vào trường hợp lạm dụng quá nhiều công nghệ hiện đại, bao gồm cả “Kaze Tachinu”. Những đồng cỏ xanh tươi bất tận, dòng suối trong trẻo róc rách nơi cánh rừng ngút ngàn, những ngôi nhà với kiến trúc độc đáo đầu thế kỷ XX, những đầu máy xe lửa chạy than tỏa khói mịt mù hay cả chiếc Zero oai hùng bay lượn… không thể hiện lên chân thực đến vậy nếu không có sự đòi hỏi đến kiệt cùng của Miyazaki đối với các nhân viên cũng như chính bản thân mình. Các mảng màu tươi sáng vẫn được ông tận dụng một cách tối đa nhằm đem đến cho bộ phim vẻ lung linh tuyệt diệu, khiến ta đôi lúc quên đi mình đang ở vào một thời kỳ gian khó bậc nhất của đất nước mặt trời mọc.

x7Ipgnm.png?1
Thế giới lung linh sắc màu của Miyazaki. Ảnh: Toho


Nhắc đến những thành công nghệ thuật của “Kaze Tachinu” mà quên mất âm nhạc của Joe Hisaishi thì quả là một thiếu sót to lớn. Nổi bật nhất có lẽ là bản “Tabiji”, gợi nhớ đến một bản nhạc rất nổi tiếng khác của ông trong “Lâu đài di động của Howl” – “The merry-go-round of life”. Cả hai đều đặc trưng cho phong cách âm nhạc mà Joe Hisaishi vẫn thường trình diễn trong các bộ phim của Hayao Miyazaki: sự hòa trộn giữa âm nhạc dân gian Nhật Bản, nhạc điện tử và nhạc cổ điển châu Âu. Nói không ngoa thì ta có thể bắt gặp cả hai vị Ryuichi Sakamoto và Beethoven trong các sáng tác của Joe. Đặc biệt hơn, ông biến tấu “Tabiji” với từng giai đoạn trong cuộc đời của Jirō, đem lại cho bộ phim nhiều sắc thái vui buồn khác nhau. Điều tương tự đã được Joe thực hiện với bản “Nahoko”, một bản nhạc nhẹ nhàng như chính con người nhân vật này. Các bản nhạc khác như “Nagare Boshi”, “Caproni”… hay bài hát chính thức “Hikōkigumo” cũng không kém phần đặc sắc, góp phần vào sự hoàn mỹ mà Miyazaki đã tạo nên trong suốt 126 phút phim.

Vậy là sự nghiệp vĩ đại gần 50 năm của vua hoạt hình Nhật Bản Hayao Miyazaki đã kết thúc với một bộ phim có thể gói gọn trong hai chữ: “tuyệt phẩm”. Nếu coi cuộc đời làm phim của ông là một cuốn sách thì cái kết của cuốn sách ấy – “Kaze Tachinu” – là một dấu ba chấm khiến bao người hâm mộ xao xuyến, luyến tiếc khôn nguôi. Cũng phải thôi, bởi từng ấy năm sáng tạo nghệ thuật không ngừng nghỉ, Miyazaki đã xây dựng nên cả một vương quốc tràn ngập những giấc mơ, những mộng tưởng từng nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ trẻ em. Những người đã trưởng thành thì tìm đến vương quốc ấy để thấy mình được bé lại, tìm đến chốn an định trong cõi lòng để lại tiếp tục được ước mơ, những ước mơ của một thời trong trẻo, thơ ngây…

Share this post


Link to post
Share on other sites

Các lời thoại trong phim được dịch bởi Le Kien@subscene.com.
Hai câu thơ của Paul Valéry được dịch bởi David Lý Lãng Nhân.
Tuổi 72 của Miyazaki mình nói ở trên là tuổi ông lúc công chiếu bộ phim nhé, giờ ông 75 rồi.
Các thông tin về quá trình thực hiện bộ phim mình tham khảo từ phim tài liệu “The Kingdom of Dreams and Madness”. Đây cũng là một bộ phim rất hay, một cái nhìn rất toàn diện về con người Miyazaki.
Một số lời của Miyazaki mình chỉ dịch theo ý nên có thể các bạn sẽ thấy hơi khác một chút, nhưng nếu như thế thì mình nghĩ đưa vào bài sẽ hay hơn.
Viết về một bộ phim và đạo diễn mình vô cùng ngưỡng mộ đối với mình quả thực là vô cùng khó khăn. Do vậy nên không thể tránh khỏi sai sót, mong các bạn ủng hộ và góp ý để lần sau mình thực hiện tốt hơn vì đây mới chỉ là bài viết thứ hai của mình. Mình xin cảm ơn.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Phim của Hayao Miyazaki dù chỉ là 2D nhưng lúc nào cũng đẹp, rất riêng, khó thấy ở những bộ hoạt hình được biết tới rộng rãi như của Disney.

Share this post


Link to post
Share on other sites

Create an account or sign in to comment

You need to be a member in order to leave a comment

Create an account

Sign up for a new account in our community. It's easy!

Register a new account

Sign in

Already have an account? Sign in here.

Sign In Now
Sign in to follow this  

×
×
  • Create New...